​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
ENGLISH

CHỦ ĐỀ: UNG BƯỚU

Độ Hiệu Quả & Tính An Toàn Của Nivolumab Ở Việc Điều Trị Ung Thư Hắc Tố Da Giai Đoạn Tiến Triển


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 2 tháng 3 năm 2026
Picture
Sau quá trình thử nghiệm rộng rãi, các chuyên gia đã chứng minh rằng nivolumab có độ hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh ung thư hắc tố. Khi so sánh với các liệu pháp miễn dịch khác, nivolumab cũng đã được chứng minh có tính hiệu quả cao hơn. Gần đây, một nghiên cứu theo dõi dài hạn về kết quả lâm sàng của nivolumab đối với bệnh ung thư hắc tố đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Có Đột Biến Thụ Thể EGFR Bằng Thuốc Sacituzumab Tirumotecan


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Hô Hấp
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 13 tháng 2 năm 2026
Picture
Các khối u ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ biểu hiện mức độ cao thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Vì các thụ thể này rất quan trọng đối với sự phát triển của khối u, nên việc ức chế mục tiêu này bằng thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR (EGFR-TKI) là một chiến lược hiệu quả để điều trị ung thư. Tuy nhiên, đột biến ở thụ thể EGFR có thể dẫn đến kháng thuốc. Trong những trường hợp này, một nghiên cứu đã được tiến hành để khám phá việc sử dụng sacituzumab tirumotecan để điều trị thay thế.
Đọc Tiếp >>>

Kết Hợp Osimertinib và Hóa Trị Để Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ với Đột Biến EGFR


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Hô Hấp
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 2 tháng 2 năm 2026
Picture
Osimertinib là thuốc ức chế tyrosine kinase thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) thế hệ thứ ba. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng osimertinib có hiệu quả hơn trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ so với các thuốc ức chế EGFR thế hệ trước và hóa trị liệu dựa trên platin. Ngoài ra, bằng chứng gần đây cho thấy việc kết hợp hóa trị liệu platin với thuốc ức chế EGFR thế hệ thứ hai gefitinib dẫn đến kết quả lâm sàng tốt hơn so với chỉ dùng gefitinib đơn độc. Dựa trên những phát hiện này, một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được tiến hành để đánh giá xem việc bổ sung hóa trị liệu dựa trên platin vào osimertinib có thể cải thiện kết quả điều trị hơn nữa hay không.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Liệu Trình Tiêm 1 Liều Để Phòng Ngừa Virus HPV ở Các Cộng Đồng Kém Phát Triển


CHỦ ĐỀ: ​Truyền Nhiễm, Phụ & Sản Khoa, Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 28 tháng 1 năm 2026
Picture
Nhiễm virus HPV là một trong những nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung phổ biến nhất. Việc tiêm phòng có thể ngăn ngừa nhiễm virus và giảm nguy cơ ung thư. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng trên toàn thế giới còn thấp; do đó, số lượng các ca ung thư cổ tử cung còn rất cao, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển. Với nguồn tài trợ từ Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá khả năng phòng ngừa ung thư của liệu trình tiêm vắc-xin HPV một liều.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Atezolizumab Cho Bệnh Nhân Ung Thư Sau Phẫu Thuật Cắt Bỏ Bàng Quang​


CHỦ ĐỀ: Tiết Niệu, Ung Bướu​​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 23 tháng 1 năm 2026
Picture
Phẫu thuật cắt bỏ bàng quang là phương pháp điều trị đầu tay cho bệnh nhân bị chẩn đoán ung thư bàng quang xâm lấn cơ; tuy nhiên, bệnh vẫn tái phát ở 50% trường hợp. Hiện tại có các phương pháp hóa trị, nhưng nếu điều trị xảy ra một cách không cần thiết, nguy cơ các tác dụng phụ xảy ra sẽ gia tăng. Do đó, việc tìm ra một dấu ấn sinh học để chứng minh sự tồn tại của các khối u còn sót lại là rất quan trọng. DNA của khối u lưu hành trong máu đã được chứng minh là một chỉ số hữu ích cho việc dự đoán sự tái phát ung thư đại tràng. Vì vậy một nghiên cứu do Roche tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng atezolizumab trong điều trị ung thư bàng quang ở bệnh nhân có DNA khối u lưu hành trong máu.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Đường Tiết Niệu Bằng Sự Kết Hợp Giữa Disitamab Vedotin và Toripalimab.


CHỦ ĐỀ: Tiết Niệu, Ung Bướu​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 21 tháng 1 năm 2026
Picture
Nhằm trốn tránh hệ thống miễn dịch, nhiều tế bào khối u biểu hiện PD-1 trên bề mặt làm giảm hoạt động của các tế bào miễn dịch đã nhắm mục tiêu tiêu diệt chúng. Can thiệp vào phương pháp né tránh miễn dịch này bằng cách nhắm mục tiêu và ức chế PD-1 đã được chứng minh là thành công. Công ty dược phẩm RemeGen đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá lợi ích bổ sung của việc thêm toripalimab - một liệu pháp miễn dịch kháng PD-1 - vào liệu pháp hiện tại điều trị ung thư biểu mô đường tiết niệu, disitamab vedotin.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Vú Bộ Ba Âm Tính Tiến Triển Bằng Sacituzumab Govitecan


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 8 tháng 12 năm 2025
Picture
Bệnh nhân có khối u vú thiếu biểu hiện của ba thụ thể hormone chính và thường có kết quả điều trị kém hơn những bệnh nhân khác. Bệnh ung thư vú bộ ba âm tính này có tỷ lệ tử vong trong 5 năm khoảng 85%. Mặc dù việc ngăn chặn con đường trốn tránh miễn dịch PD-1 có thể hiệu quả, nhưng các liệu pháp miễn dịch này mang lại ít lợi ích khi khối u không biểu hiện hoặc không điều hòa giảm PD-1. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Gilead tài trợ đã đánh giá sacituzumab govitecan như một lựa chọn điều trị cho ung thư vú bộ ba âm tính.
Đọc Tiếp >>>

Kết Hợp Amivantamab và Lazertinib Để Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 26 tháng 11 năm 2025
Picture
Các liệu pháp hóa trị nhắm vào đường truyền tín hiệu thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR-TKI) đóng vai trò trung tâm trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Tuy nhiên, ngay cả những loại thuốc thế hệ thứ ba tiên tiến nhất cũng chỉ mang lại lợi ích ở mức độ vừa phải với thời gian sống trung bình khoảng ba năm và tỷ lệ sống sót sau 5 năm dưới 20%. Tình trạng kháng thuốc với các liệu pháp hiện tại vẫn tiếp tục xuất hiện, làm nổi bật nhu cầu về các chiến lược điều trị mới. Nhờ vào sự hỗ trợ từ Janssen, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng kết hợp amivantamab và lazertinib trong điều trị NSCLC.
Đọc Tiếp >>>

Tác Dụng Của Kem Nicotinamide Trong Việc Ngăn Ngừa Ung Thư Da


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 3 tháng 11 năm 2025
Picture
Các thử nghiệm lâm sàng trước đây đã tìm thấy rằng việc sử dụng nicotinamide có thể giúp ngăn ngừa ung thư da; tuy nhiên, những nghiên cứu này bị hạn chế bởi quy mô mẫu nhỏ. Để tìm hiểu hơn về hiệu quả của nicotinamide, một nghiên cứu quy mô lớn do chính phủ Hoa Kỳ tài trợ đã đánh giá việc sử dụng nicotinamide bôi ngoài da trong phòng ngừa ung thư da.
Đọc Tiếp >>>

Ngăn Ngừa Tái Phát Ung Thư Bằng Cemiplimab Ở Bệnh Nhân Đã Phẫu Thuật Cắt Bỏ Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy Da


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 19 tháng 9 năm 2025
Picture
Ung thư biểu mô tế bào vảy da là một trong những dạng ung thư da phổ biến nhất và có thể dễ dàng được kiểm soát bằng phẫu thuật cắt bỏ. Trong trường hợp bệnh tái phát, xạ trị có thể được sử dụng, nhưng thất bại điều trị vẫn có thể xảy ra ở một số bệnh nhân. Vì thế, công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ một nghiên cứu với mục tiêu tìm hiểu việc sử dụng cemiplimab trong điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy da ở những bệnh nhân có khả năng tái phát cao.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Aspirin ở Các Bệnh Nhân Ung Thư Đại Tràng với Đột Biến PI3K


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Tiêu Hóa
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 6 tháng 10 năm 2025
Picture
Aspirin là một thuốc giảm đau và chống viêm được sử dụng rộng rãi. Thuốc có tác dụng giảm viêm bằng cách ức chế cyclooxygenase-2 (COX-2). Các khối u ung thư đại trực tràng thường biểu hiện lượng COX-2 cao. Vì thế, COX-2 có thể kích hoạt tính hiệu phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K) và thúc đẩy quá trình hình thành khối u. Với sự tài trợ của Hội Đồng Nghiên Cứu Thụy Điển, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu aspirin có thể cải thiện kết quả điều trị ở những bệnh nhân ung thư đại trực tràng mang đột biến PI3K hay không.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Elinzanetant Để Kiểm Soát Các Cơn Bốc Hỏa Ở Bệnh Nhân Ung Thư Vú Được Điều Trị Bằng Liệu Pháp Nội Tiết


CHỦ ĐỀ: Phụ & Sản Khoa, Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 17 tháng 9 năm 2025
Picture
Đối với bệnh nhân ung thư vú dương tính với thụ thể hormone, liệu pháp nội tiết thường được sử dụng trong vòng 5 đến 10 năm. Mặc dù hiệu quả, liệu pháp kéo dài này thường gây ra các tác dụng phụ nhất là bốc hỏa. Triệu chứng phụ này thường nghiêm trọng hơn ở những bệnh nhân trẻ tuổi chưa mãn kinh. Với sự tài trợ của Bayer, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của elinzanetant trong việc giảm bốc hỏa trong quá trình điều trị ung thư vú.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Vú Với Thụ Thể Estrogen Đột Biến Bằng Camizestrant


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​
Đăng vào ngày 3 tháng 9 năm 2025
Picture
Chất ức chế aromatase và chất ức chế CDK 4/6 thường được sử dụng làm phương pháp điều trị bậc nhất cho các khối u ung thư vú biểu hiện thụ thể hormone. Tuy nhiên, đột biến ở thụ thể estrogen có thể giảm sự hiệu quả của thuốc đối kháng ức chế aromatase. Để quản lý cơ chế kháng thuốc này, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu thử nghiệm thuốc camizestrant - một chất phân hủy thụ thể estrogen chọn lọc - để điều trị ung thư vú.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Vú Tái Phát Hoặc Di Căn Bằng Vepdegestrant, Một Chất Suy Giảm Thụ Thể Estrogen​


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 25 tháng 8 năm 2025
Picture
Phần lớn các khối u ung thư vú đều biểu hiện thụ thể estrogen trên bề mặt và không có thụ thể cho yếu tố tăng trưởng biểu bì người (HER2). Để điều trị dạng ung thư này, chữa trị nội tiết được kết hợp với thuốc ức chế CDK4/6. Nhưng tình trạng kháng thuốc tạo ra thách thức lớn cho việc kiểm soát tiến triển của bệnh. Với sự tài trợ từ Pfizer, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng vepdegestran trong điều trị ung thư vú tiến triển.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ Bằng Limertinib, Thuốc Ức Chế EGFR Thế Hệ Thứ 3


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 22 tháng 8 năm 2025
Picture
Đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC). Do đó, việc ức chế đường truyền tín hiệu EGFR trở thành một mục tiêu điều trị lý tưởng. Thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc kiểm soát NSCLC, nhưng tình trạng kháng thuốc đã được chứng minh là một trở ngại. Với sự tài trợ từ công ty dược Jiangsu Aosaikang, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng limertinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Tartalamab Như Liệu Pháp Điều Trị Tuyến Hai Cho Bệnh Ung Thư Phổi Tế Bào Nhỏ ​


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 15 tháng 8 năm 2025
Picture
Ung thư phổi tế bào nhỏ là một trong những loại ung thư nghiêm trọng nhất, với chỉ 5% bệnh nhân sống sót sau 5 năm. Hóa trị liệu dựa trên bạch kim và thuốc ức chế PD-L1 là liệu pháp điều trị đầu tiên đối với căn bệnh này; tuy nhiên, những liệu pháp này không làm tăng đáng kể khả năng sống sót. Các liệu pháp điều trị thứ hai hiện có cũng không mang lại hiệu quả đối với các tác dụng phụ về huyết học không thể dung nạp. Với sự tài trợ từ Amgen, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng tarlatamab để điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Dương Tính Với HER2 Bằng Trastuzumab Deruxtecan​


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Tiêu Hóa
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 13 tháng 8 năm 2025
Picture
Ung thư dạ dày là một trong những loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam và có thể giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đáng kể. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng từ 5% đến 17% khối u ung thư dạ dày biểu hiện thụ thể cho yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2). Công ty dược phẩm Daiichi Sankyo và AstraZeneca đã đồng tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tận dụng mục tiêu điều trị này - sử dụng trastuzumab deruxtecan để điều trị ung thư dạ dày.
Đọc Tiếp >>>

Bổ Sung Durvalumab Vào Phác Đồ Hóa Trị FLOT cho Ung Thư Biểu Mô Dạ Dày và Thực Quản Có Thể Phẫu Thuật Cắt Bỏ


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Tiêu Hóa
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 4 tháng 8 năm 2025
Picture
Ung thư biểu mô tuyến dạ dày và thực quản là một trong những loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam. Phẫu thuật cắt bỏ kết hợp hóa trị là phương pháp lý tưởng để điều trị khối u; tuy nhiên, tỷ lệ tái phát vẫn còn cao. Các phương pháp điều trị nhắm vào cơ cấu ức chế miễn dịch của khối u đã được chứng minh có khả năng kiểm soát bệnh. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được tiến hành để phân tích việc bổ sung durvalumab vào hóa trị liệu tiêu chuẩn để kiểm soát ung thư dạ dày và thực quản.
Đọc Tiếp >>>

Bổ Sung Inavolisib vào Liệu Trình Palbociclib-Fulvestrant Để Điều Trị Ung Thư Ngực


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 1 tháng 8 năm 2025
Picture
Ung thư ngực dương tính với thụ thể hormone có cơ chế sinh bệnh phức tạp với nhiều quá trình hình sinh học thành khối u. Ba phương pháp hình thành khối ưu quan trọng bao gồm thụ thể estrogen, CDK4/6 và phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K). Trong số đó, đột biến của PI3K dưới dạng PIK3CA được tìm thấy ở 40% bệnh nhân và có liên quan đến tiên lượng xấu. Với sự tài trợ từ Roche, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc bổ sung inavolisib vào liệu pháp điều trị ung thư vú hiện tại.
Đọc Tiếp >>>

Kết hợp Pembrolizumab với hóa xạ trị tiêu chuẩn để điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 25 tháng 7 năm 2025
Picture
Những tiến bộ hạn chế trong nỗ lực cải thiện điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ (HNSCC) tiến triển tại chỗ có thể cắt bỏ. Liệu pháp xạ trị và cisplatin tiêu chuẩn hiện nay không hiệu quả và không ngăn ngừa được bệnh tái phát ở một lượng lớn bệnh nhân. Pembrolizumab đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị HNSCC di căn và tái phát; do đó, Merck đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tìm hiểu khả năng điều chỉnh pembrolizumab cho giai đoạn bệnh sớm hơn.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Apixaban Liều Thấp Để Ngăn Ngừa Huyết Khối Tĩnh Mạch ở Bệnh Nhân Ung Thư​


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tim Mạch​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 7 tháng 5 năm 2025
Picture
Bệnh nhân ung thư có nguy cơ huyết khối tắc mạch tĩnh mạch cao hơn đáng kể so với những người khỏe mạnh. Mặc dù nhiều hướng dẫn hiện tại khuyến nghị tiếp tục dùng thuốc chống đông trong suốt thời gian mắc ung thư, nhưng liệu pháp kéo dài làm tăng nguy cơ biến chứng chảy máu. Để tìm ra liều tối ưu, một nghiên cứu do Bristol-Myers Squibb tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của các chế độ dùng thuốc apixaban khác nhau trong việc ngăn ngừa huyết khối tắc mạch ở bệnh nhân ung thư.
Đọc Tiếp >>>

Quản lý ung thư vú ER dương tính đột biến ESR1 bằng Imlunestrant & Abemaciclib


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu​​​​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 30 tháng 4 năm 2025
Picture
Ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen (ER) có thể được kiểm soát bằng thuốc đối kháng ER như fulvestrant. Tuy nhiên, yêu cầu tiêm bắp của fulvestrant làm phức tạp quá trình điều trị, đòi hỏi phải đến phòng khám và hạn chế sự tiện lợi của thuốc. Hơn nữa, hiệu quả của thuốc giảm ở những bệnh nhân có đột biến ESR1 trong thụ thể estrogen. Imlunestrant là thuốc đối kháng ER mới hơn và có dạng uống. Để đánh giá hiệu quả của thuốc, Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu kết hợp imlunestrant với abemaciclib trong việc kiểm soát ung thư vú dương tính với ER, âm tính với HER2.
Đọc Tiếp >>>

Liệu pháp kép với Acalabrutinib và Venetoclax làm giảm tử vong và tiến triển bệnh ở bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu​​​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 3 năm 2025
Picture
Bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính hiện đang được điều trị bằng các phác đồ kết hợp bao gồm các liệu pháp miễn dịch hóa học có mục tiêu như chất ức chế tyrosine kinase Bruton, chất ức chế Bcl-2 và kháng thể anti-CD20, cùng các loại khác. Các phương pháp điều trị này đã cải thiện đáng kể khả năng sống sót và làm chậm tiến triển của bệnh, nhưng chúng cũng liên quan đến tình trạng ức chế miễn dịch kéo dài và độc tính tim mạch. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã so sánh hiệu quả và độ an toàn của acalabrutinib, chất ức chế tyrosine kinase Bruton thế hệ thứ hai, với các phác đồ điều trị hiện tại cho bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính.
Đọc Tiếp >>>

Kết quả dài hạn của sự kết hợp Nivolumab và Ipilimumab trong bệnh u hắc tố tiến triển không thể cắt bỏ


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 3 tháng 2 năm 2025
Picture
Sau khi được chấp thuận vào năm 2010, sự kết hợp giữa nivolumab và ipilimumab đã cho thấy kết quả đáng chú ý ở những bệnh nhân mắc bệnh u hắc tố. Nivolumab và ipilimumab hoạt động bằng cách ngăn chặn các protein PD-1 và CTLA-4 mà các tế bào ung thư sử dụng để ức chế phản ứng miễn dịch. Sau khi được chấp thuận, Bristol Myers Squibb đã tài trợ cho một nghiên cứu giám sát để đánh giá kết quả lâu dài của sự kết hợp giữa nivolumab và ipilimumab trong điều trị bệnh u hắc tố.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Ponsegromab trong việc kiểm soát chứng suy mòn ở bệnh nhân ung thư


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu​​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2025
Picture
Suy mòn là một vấn đề phổ biến mà bệnh nhân ung thư phải đối mặt, với một số ít lựa chọn điều trị được chấp thuận. Các hướng dẫn gần đây đề xuất sử dụng olanzapine để cải thiện cảm giác thèm ăn, mặc dù có ít bằng chứng hỗ trợ cho khuyến nghị này. Sử dụng ngắn hạn các chất tương tự progesterone và glucocorticoid cũng có thể có lợi, nhưng chúng đi kèm với các tác dụng phụ. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng protein GDF-15 đóng vai trò trong sự phát triển của chứng suy mòn thông qua tương tác của nó với các thụ thể GFRAL ở não sau. Ponsegromab là một kháng thể mới ức chế tương tác này và Pfizer đã tài trợ cho một nghiên cứu để khám phá khả năng sử dụng của nó trong việc kiểm soát chứng suy mòn.
Đọc Tiếp >>>

Tác động của việc bổ sung Pembrolizumab vào liệu pháp hóa trị dựa trên Platinum đối với sự sống còn ở bệnh ung thư vú bộ ba âm tính


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 13 tháng 1 năm 2025
Picture
Điều trị ung thư vú có thể là một thách thức vì các phân nhóm khác nhau của bệnh biểu hiện các mức độ nhạy cảm và tiên lượng khác nhau. Ung thư vú bộ ba âm tính được đặc trưng bởi các tế bào khối u không biểu hiện thụ thể estrogen, thụ thể progesterone hoặc thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì ở người. Việc thiếu các mục tiêu điều trị này khiến việc điều trị phân nhóm này trở nên đặc biệt khó khăn. Pembrolizumab là một chất ức chế PD-1, chúng hoạt động bằng cách ngăn chặn khả năng trốn tránh hệ thống miễn dịch của khối u. Thuốc Pembrolizumab đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm chấp thuận vào năm 2020 để điều trị ung thư vú bộ ba âm tính sau khi có kết quả sơ bộ đầy hứa hẹn. Gần đây, nghiên cứu đã công bố những phát hiện trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

So sánh sự kết hợp Nivolumab và Ipilimumab với hóa trị liệu tiêu chuẩn trong ung thư trực tràng di căn tiến triển


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tiêu Hóa​​​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 8 tháng 1 năm 2025
Picture
Ung thư đại trực tràng là một loại ung thư phổ biến và những bệnh nhân bị thiếu hụt sửa chữa không khớp và đột biến mất ổn định vi vệ tinh thường có tiên lượng xấu hơn. Nivolumab và ipilimumab có thể kích hoạch quá trình tiêu diệt tế bào ung thư của hệ miễn dịch. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã điều tra tác động của nivolumab và ipilimumab trong việc điều trị cho những bệnh nhân ung thư đại trực tràng có đột biến tiến triển.
Đọc Tiếp >>>

Ảnh Hưởng Của Durvalumab Trước Phẫu Thuật Lên Tái Phát Bệnh & Sống Sót Ở Bệnh Ung Thư Bàng Quang Xâm Lấn Cơ


CHỦ ĐỀ: Tiết Niệu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 20 tháng 12 năm 2024
Picture
Các phác đồ hiện tại về ung thư bàng quang khuyến cáo dùng hóa trị cisplatin trước khi cắt bỏ bàng quang triệt để và hạch vùng chậu. Tuy nhiên, 50% các bệnh nhân tái phát bệnh trong vòng ba năm. Durvalumab, chất ức chế PD-1, có thể cải thiện khả năng thanh thải khối u bằng cách ngăn chặn tác dụng ức chế miễn dịch của tế bào ung thư. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung durvalumab vào phác đồ điều trị để kiểm soát ung thư bàng quang xâm lấn cơ.​
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Nivolumab và Ipilimumab tân bổ trợ trong điều trị u hắc tố giai đoạn III có thể cắt bỏ


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 18 tháng 12 năm 2024
Picture
Đối với những bệnh nhân bị u hắc tố có thể cắt bỏ, nivolumab - một chất ức chế PD-1, và ipilimumab, một chất ức chế CTLA-4, có thể được sử dụng như các phương pháp điều trị bổ trợ để loại bỏ các tế bào khối u còn sót lại sau phẫu thuật. Cả nivolumab và ipilimumab đều hoạt động bằng cách chặn các tín hiệu mà các tế bào khối u sử dụng để ức chế hoạt động của tế bào miễn dịch. Một nghiên cứu do Bristol Myers tài trợ đã được tiến hành để đánh giá liệu việc sử dụng nivolumab và ipilimumab như một liệu pháp tân bổ trợ trước khi phẫu thuật cũng có thể hiệu quả hay không.
Đọc Tiếp >>>

Kết quả dài hạn của sự kết hợp Dabrafenib và Trametinib trong bệnh u hắc tố giai đoạn III có đột biến BRAF


CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 16 tháng 12 năm 2024
Picture
BRAF là một gen quan trọng liên quan đến việc điều chỉnh sự phát triển của tế bào và các đột biến ở gen này có thể dẫn đến hoạt hóa MEK dai dẳng, gây ra sự tăng sinh tế bào không kiểm soát, thường thấy ở nhiều trường hợp u ác tính. Tình trạng này có thể được kiểm soát bằng cách ức chế cả BRAF và MEK bằng dabrafenib và trametinib, kết hợp với các phương pháp điều trị miễn dịch khác giúp loại bỏ mô ung thư. Sau khi FDA chấp thuận sử dụng vào năm 2018, việc theo dõi lâu dài kết quả sức khỏe của bệnh nhân vẫn tiếp tục và những phát hiện gần đây đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

Bổ sung Isatuximab vào liệu pháp tiêu chuẩn làm giảm sự tiến triển của bệnh ở bệnh u tủy


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 11 tháng 12 năm 2024
Picture
Bệnh u tủy đa hiện đang được điều trị bằng sự kết hợp ba loại thuốc gồm bortezomib, chất ức chế proteasome, lenalidomide, chất điều biến ligase và glucocorticoid chống viêm dexamethasone. Vì CD38 được biểu hiện nhiều trên bề mặt của tế bào u tủy đa, Sanofi đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm khám phá những lợi ích tiềm năng của việc bổ sung kháng thể anti-CD38 isatuximab vào phác đồ điều trị hiện có.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả và tính an toàn của Inavolisib khi kết hợp với Palbociclib và Fulvestrant để điều trị ung thư vú giai đoạn tiến triển đột biến PIK3CA


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 9 tháng 12 năm 2024
Picture
Đột biến kích hoạt trong phức hợp phosphatidylinositol 3-kinase (PIK3CA) được tìm thấy ở 35% đến 40% bệnh nhân ung thư vú, góp phần làm bệnh tiến triển nặng hơn. Inavolisib là chất ức chế PIK3CA mạnh có ái lực cao với mục tiêu của nó, dẫn đến ít tác dụng phụ nghiêm trọng hơn. Roche gần đây đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của inavolisib trong điều trị ung thư vú giai đoạn tiến triển.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Amivantamab và Lazertinib trong điều trị NSCLC đột biến EGFR


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 2 tháng 12 năm 2024
Picture
Đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) thường gặp ở những bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, dẫn đến tỷ lệ sống sót sau 5 năm giảm chỉ còn 19%. Osimertinib là liệu pháp điều trị đầu tay hiện tại cho những bệnh nhân này, hoạt động bằng cách ức chế hoạt động kinase của EGFR (EGFR-TKI). Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân cuối cùng đều phát triển tình trạng kháng osimertinib và các EGFR-TKI thế hệ thứ ba khác. Để giải quyết vấn đề này, Janssen đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của amivantamab và lazertinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có đột biến EGFR.
Đọc Tiếp >>>

So Sánh Hiệu Quả & An Toàn Của Nivolumab và Brentuximab Vedotin Kết Hợp Với Phác Đồ Chuẩn Điều Trị Bệnh Ung Thư Lympho Hodgkin​


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 27 tháng 11 năm 2024
Picture
Ung thư lympho Hodgkin hiện đang được điều trị bằng nhiều loại thuốc hóa trị và thường được kết hợp với nhiều loại thuốc khác nhau. Trong số đó, brentuximab vedotin đã chứng minh được hiệu quả khi nhắm vào các tế bào khối u thông qua liên kết với CD30, được biểu hiện rộng rãi trên bề mặt của chúng. Tuy nhiên, thuốc này có liên quan đến độc tính đáng kể, đặc biệt là ở bệnh nhi. Các tế bào u lympho Hodgkin cũng biểu hiện mức PD-L1 cao, giúp vô hiệu hóa các tế bào miễn dịch chống khối u, một quá trình có thể được nivolumab nhắm mục tiêu. Viện Y tế Quốc gia đã ủy quyền cho một nghiên cứu để so sánh hiệu quả của brentuximab vedotin và nivolumab khi kết hợp với phác đồ điều trị tiêu chuẩn hiện tại cho u lympho Hodgkin.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá hiệu quả của Durvalumab trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 25 tháng 11 năm 2024
Picture
Ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm 15% trong tổng số các trường hợp ung thư phổi và hiện đang được điều trị bằng xạ trị ngực và hóa trị platinum-etoposide. Mặc dù có các phương pháp điều trị này, phần lớn bệnh nhân vẫn bị tái phát trong vòng 2 năm, với khoảng 30% ca tử vong trong vòng 5 năm. Durvalumab và tremelimumab là hai kháng thể miễn dịch chống lại tác dụng ức chế miễn dịch của PD-L1 và CTLA-4 trên tế bào ung thư. Các kháng thể này đã cho thấy hiệu quả trong điều trị nhiều loại ung thư bao gồm cả ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Do đó, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá tiềm năng của chúng trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.
Đọc Tiếp >>>

FDA Cấp Phép Đầu Tiên Cho Liệu Pháp Tế Bào T Thụ Thể Kháng Nguyên Khảm (CAR T-cell) Trong Điều Trị Khối U Dạng Rắn: Afamitresgene Autoleucel cho Sarcoma Hoạt Dịch và Liposarcoma Tế Bào Tròn Dạng Nhầy


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 8 tháng 11 năm 2024
Picture
Sarcoma hoạt dịch và liposarcoma tế bào tròn dạng nhầy là những loại sarcoma mô mềm hiếm gặp thường đáp ứng tốt với hóa trị. Tuy nhiên, một khi những loại ung thư này di căn, tiên lượng rất ảm đạm, với tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ từ 8% đến 14%. Mặc dù có sự khác biệt, cả hai loại khối u đều biểu hiện mức độ protein MAGE-A4 cao trên bề mặt tế bào. Gần đây, một nghiên cứu do công ty Adaptimmune tài trợ đã khám phá việc sử dụng afamitresgene autoleucel, một liệu pháp tế bào T thụ thể kháng nguyên khảm (CAR T-cell) nhắm vào MAGE-A4, để điều trị cho những bệnh nhân bị sarcoma hoạt dịch và liposarcoma tế bào tròn dạng nhầy.
Đọc Tiếp >>>

Đánh Giá Hiệu Quả Của Liệu Pháp Kết Hợp Doxorubicin-Trabectedin Trong Bệnh Ung Thư Cơ Trơn Di Căn


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 23 tháng 10 năm 2024
Picture
Ung thư cơ trơn là một loại ung thư mô mềm phổ biến với tiên lượng xấu sau di căn. Mặc dù doxorubicin là phương pháp điều trị đầu tay tiêu chuẩn, các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy rằng việc kết hợp nó với các liệu trình khác không cải thiện kết quả lâm sàng. Trabectedin là một liệu pháp điều trị thứ hai thường được sử dụng để kiểm soát sự tiến triển của bệnh sau di căn. Gần đây, một nghiên cứu do công ty PharmaMar tài trợ đã điều tra xem liệu việc bổ sung trabectedin vào phương pháp điều trị đầu tay bằng doxorubicin có thể cải thiện kết quả trong việc kiểm soát ung thư cơ trơn hay không.​
Đọc Tiếp >>>

Điều Trị Ung Thư Tế Bào Thận Bằng Belzutifan, Một Chất Ức Chế HIF-2α


CHỦ ĐỀ: Tiết Niệu, Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 2 tháng 10 năm 2024
Picture
90% các trường hợp ung thư biểu mô tế bào thận liên quan đến đột biến ở gen VHL, dẫn đến gia tăng kích hoạt tính hiệu HIF, thúc đẩy quá trình hình thành khối u, hình thành mạch máu và di căn. Belzutifan có khả năng liên kết với yếu tố phiên mã HIF2α và ức chế quá trình kích hoạt của nó. Dựa trên điều này, công ty Merck đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của belzutifan trong điều trị ung thư biểu mô tế bào thận.
Đọc Tiếp >>>

Sự Hiệu Quả Của Osimertinib Trong Việc Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ Với Đột Biến Thụ Thể Yếu Tố Tăng Trưởng Biểu Bì (EGFR)


CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Hô Hấp
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 25 tháng 9 năm 2024
Picture
Do bản chất của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), hầu hết các trường hợp bệnh đều không thể điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ, khiến hóa xạ trị kết hợp với durvalumab trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng bệnh nhân NSCLC có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) có tiên lượng kém hơn. Osimertinib, một chất ức chế EGFR, gần đây đã được đánh giá về hiệu quả trong điều trị NSCLC đột biến EGFR trong một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ.
Đọc Tiếp >>>

Sử Dụng Olanzapine Để Ngăn Ngừa Buồn Nôn Do Điều Trị Ung Thư Bằng Hóa Trị

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 23 tháng 9 năm 2024
Picture
Buồn nôn và nôn mửa là hai tác dụng phụ thường gặp của việc điều trị ung thư bằng hóa trị, đặc biệt là với các phác đồ bao gồm oxaliplatin, irinotecan và carboplatin, khiến cho việc điều trị dự phòng chống nôn quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Olanzapine, một loại thuốc chống loạn thần thường được sử dụng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt, gần đây đã được đánh giá trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp Chí của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) để xác định xem các đặc tính chống nôn của thuốc có thể hỗ trợ ngăn ngừa các tác dụng phụ ở những bệnh nhân hóa trị.
Đọc Tiếp >>>

So Sánh Sự Hiệu Quả Của Belantamab Và Daratumumab Trong Việc Điều Trị Bệnh Đa U Tủy

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 9 tháng 9 năm 2024
Picture
Để tối đa hóa khả năng loại bỏ bệnh đa u tủy và ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc, bệnh thường được điều trị bằng sự kết hợp của nhiều liệu pháp, bao gồm chất ức chế proteasome và thuốc điều hòa miễn dịch như bortezomib và dexamethasone. Bệnh có thể được điều trị với kháng thể đơn dòng nhắm vào các mục tiêu cụ thể trên tế bào khối u. Ví dụ như CD38 và BCMA được biểu hiện nhiều trên các tế bào u tủy và có thể được nhắm mục tiêu bằng daratumumab và belantamab. Một nghiên cứu gần đây do công ty dược GlaxoSmithKline tài trợ đã so sánh hiệu quả của daratumumab và belantamab trong việc điều trị bệnh đa u tủy và hiện đã công bố kết quả nghiên cứu.
Đọc Tiếp >>>

Tisotumab Vedotin Giúp Cải Thiện Tiên Lượng Trong Các Bệnh Nhân Ung Thư Cổ Tử Cung Tái Phát

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Phụ & Sản Khoa​​​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 26​ tháng 8 năm 2024
Picture
Mặc dù sử dụng liệu pháp chống PD-1 và PD-L1, tiên lượng của ung thư cổ tử cung vẫn ảm đạm, với tỷ lệ sống sót sau 5 năm chỉ là 19%. Vì thế cần một phương pháp điều trị mới như tisotumab vedotin. Tisotumab vedotin là một hợp chất bao gồm monomethyl auristatin E, một hợp chất phá vỡ vi ống tế bào, liên hợp với một kháng thể nhắm vào yếu tố mô, được biểu hiện nhiều trong các khối u cổ tử cung. Để đáp ứng nhu cầu này, công ty dược Genmab và Pfizer đã tài trợ cho một nghiên cứu tìm hiểu sự hiệu quả của tisotumab vedotin trong việc điều trị ung thư cổ tử cung tái phát.
Đọc Tiếp >>>

Kết Hợp Durvalumab với Hóa Trị Ở Các Ca Ung Thư Đường Mật & Túi Mật Giai Đoạn Muộn

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tiêu Hóa​​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 8 tháng 7 năm 2024
Picture
Sự kết hợp giữa gemcitabine và cisplatin thường được sử dụng để điều trị ung thư đường mật và túi mật dạng nặng, nhưng tỷ lệ sống sót trung bình với chế độ điều trị này là dưới 12 tháng. Durvalumab, một kháng thể đơn dòng, có khả năng tăng cường hoạt động chống ung thư của hệ miễn dịch bằng cách cản sự tương tác ức chế miễn dịch giữa thụ thể PD-1 và PD-1L. AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Durvalumab trong điều trị ung thư đường mật và túi mật giai đoạn muộn.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu Quả của Việc Bổ Sung Nivolumab Vào Liều Trình Hóa Trị Tiêu Chuẩn Ở Ung Thư Dạ Dày

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tiêu Hóa​​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 5 tháng 7 năm 2024
Picture
Ở nhiều quốc gia châu Á, liệu pháp tiêu chuẩn hiện nay đối với bệnh ung thư dạ dày có thể cắt bỏ bao gồm hóa trị sau phẫu thuật với docetaxel, oxaliplatin và tegafur-gimeracil-oteracil, để giảm thiểu nguy cơ tái phát bệnh. Một bài báo gần đây đăng trên tạp chí The Lancet đã điều tra tác dụng của việc bổ sung chất ức chế thụ thể PD-1, nivolumab, vào chế độ hóa trị liệu để điều trị ung thư dạ dày.
Đọc Tiếp >>>

Bổ Trợ Miễn Dịch Với Nivolumab & Ipilimumab Cho Thấy Hứa Hẹn Về Khả Năng Điều Trị Ung Thư Ruột Già Thiếu Cơ Cấu Sửa Chữa Đột Biến

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tiêu Hóa​​​
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Đăng vào ngày 3 tháng 7 năm 2024
Picture
Khiếm khuyết trong cơ cấu sửa chữa đột biến trong tế bào có ở 15% trường hợp ung thư ruột già không di căn. Hiện nay, những bệnh nhân này được điều trị với liệu trình hóa trị căn bản fluorouracil cộng với oxaliplatin sau phẫu thuật. Tuy nhiên, dữ liệu gần đây cho thấy phương pháp này có hiệu quả hạn chế. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của việc sử dụng liệu pháp miễn dịch nivolumab cộng với ipilimumab ở những bệnh nhân ung thư ruột già thiếu cơ chế sửa chữa đột biến.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng đồng thời nivolumab và hóa trị liệu dựa trên bạch kim trước và sau phẫu thuật đối với bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có thể cắt bỏ​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 31 tháng 5 năm 2024
Picture
Nivolumab là một kháng thể đơn dòng tăng cường khả năng loại bỏ tế bào khối u của hệ miễn dịch bằng cách ức chế thụ thể PD-1. Việc sử dụng nivolumab bổ trợ cùng với hóa trị liệu dựa trên platinum đã giảm đáng kể nguy cơ tử vong và tái phát bệnh ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có thể phẫu thuật cắt bỏ. Do đó, một nghiên cứu đã điều tra việc sử dụng nivolumab chu phẫu, trước và sau phẫu thuật, có thể cải thiện kết quả lâm sàng bằng cách vô hiệu hóa các tế bào khối u còn sót lại và ức chế di căn vi mô.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả của Pembrolizumab trong điều trị bổ trợ cho ung thư biểu mô tế bào thận

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 15 tháng 5 năm 2024
Picture
Vẫn có một số lượng hạn chế trong phương pháp điều trị bổ trợ đã được phê duyệt đối với ung thư biểu mô tế bào thận sau phẫu thuật cắt bỏ. Vào năm 2021, Pembrolizumab - một loại kháng thể nhắm vào protein chết tế bào 1 (PD-1) được lập trình đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt sau khi mang lại những kết quả tạm thời đầy hứa hẹn. Một bài báo gần đây trên Tạp chí Y học New England cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn từ giai đoạn cuối của nghiên cứu đánh giá hiệu quả của pembrolizumab như một phương pháp điều trị bổ trợ cho ung thư biểu mô tế bào thận sau phẫu thuật cắt bỏ.
Đọc Tiếp >>>

Nghiên cứu hiệu quả của Alectinib, một chất ức chế ALK, trong bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dương tính với ALK

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Hô Hấp, Thần Kinh
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 29 tháng 4 năm 2024
Picture
Khoảng 5% trong số tất cả các trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) biểu hiện sự sắp xếp lại gen anaplastic lympho kinase (ALK). Tập hợp con cụ thể này của NSCLC có thể được điều trị bằng hóa trị liệu kết hợp dựa trên bạch kim; tuy nhiên, phác đồ điều trị này có những cải thiện khiêm tốn về tỷ lệ sống sót và có nguy cơ tái phát bệnh tương đối cao. Alectinib là một chất ức chế ALK và một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của nó trong việc quản lý NSCLC dương tính với ALK.
Đọc Tiếp >>>

Liệu pháp kết hợp giữa Ribociclib và NSAIs đối với bệnh ung thư vú dương tính với HR2, HER2 âm tính

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 19 tháng 4 năm 2024
Picture
Các khối u ung thư vú biểu hiện thụ thể nội tiết (HR) nhưng không biểu hiện thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2) tạo thành loại ung thư vú phổ biến nhất. Ribociclib - một chất ức chế kinase phụ thuộc cyclin 4 và 6 đã chứng minh được độ hiệu quả trong việc ngăn chặn sự tiến triển của khối u và thường được sử dụng trong điều trị ung thư vú giai đoạn tiến triển. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của Ribociclib trong điều trị ung thư vú âm tính với HR2, HR2 giai đoạn đầu.
Đọc Tiếp >>>

Sự kết hợp Enfortumab Vedotin và Pembrolizumab nhằm chống lại ung thư biểu mô tiết niệu

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 12 tháng 4 năm 2024
Picture
Hóa trị liệu bạch kim từ lâu đã là phương pháp điều trị thông thường đối với ung thư biểu mô đường tiết niệu, nhưng hiệu quả của nó vẫn còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ sống sót sau 5 năm mắc bệnh là rất thấp. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy kết quả đầy hứa hẹn với sự kết hợp của enfortumab vedotin, một kháng thể nhắm mục tiêu nectin-4 - một phân tử bám dính tế bào được biểu hiện quá mức trên các tế bào khối u - và pembrolizumab, một chất ức chế PD-1. Trước những phát hiện này, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hoạt tính chống ung thư được tăng cường của sự kết hợp enfortumab vedotin và pembrolizumab chống lại ung thư biểu mô đường tiết niệu.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Repotrecitinib để điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có đột biến ở thụ thể ROS1

CHỦ ĐỀ: Hô Hấp, ​Ung Bướu
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Đăng vào ngày 4 tháng 3 năm 2024
Picture
Đột biến ở thụ thể tyrosine kinase ROS1 chiếm 2% trong tổng số các trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Hiện nay, Crizotinib và Entrecitinib là hai chất ức chế ROS1 đang được sử dụng. Tuy nhiên, sự hiệu quả của hai loại thuốc trên tương đối giới hạn bởi vì tình trạng đề kháng đã xuất hiện ở hơn nửa số trường hợp. Và hoạt động trong não của thuốc không tốt và vô hiệu hóa trong các tình huống di căn. Repotrecitinib, một chất đối kháng ROS1 phân tử nhỏ mới, đại diện cho một lựa chọn thế hệ tiếp theo có khả năng thâm nhập vào não dễ dàng và không phụ thuộc vào cơ chế đề kháng thuốc. Một nghiên cứu gần đây đã công bố những phát hiện về hiệu quả của Repotrecitinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dương tính với ROS1.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Tebentafusp để điều trị u ác tính di căn

CHỦ ĐỀ: Da Liễu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 5 tháng 2 năm 2024
Picture
U hắc tố màng bồ đào là một dạng ung thư da hiếm gặp liên quan đến mắt và là một thách thức khác biệt so với u ác tính ở da. Một khi sự di căn xảy ra và tiên lượng trở nên xấu hơn dẫn đến tỷ lệ sống trung bình là một năm. Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch thường mang lại hiệu quả trong điều trị khối u ác tính ở da, tuy nhiên, chúng không hiệu quả đối với khối u ác tính ở màng bồ đào. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Tebentafusp - một thụ thể tổng hợp đặc hiệu kép được thiết kế để tăng cường khả năng trung hòa các tế bào u ác tính màng bồ đào được làm giàu bằng gp100 bởi tế bào T.
Đọc Tiếp >>>

Chữa trị ung thư buồng trứng bằng kháng thể chống thụ thể folate alpha, Mirvetuximab Soravtansine-gynx

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Phụ & Sản Khoa 
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2024
Picture
Ung thư biểu mô buồng trứng được coi là khối u phụ khoa nguy hiểm nhất được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên bạch kim đã được chứng minh độ hiệu quả. Tuy nhiên, trong các trường hợp tái phát, những khối u này phát triển khả năng đề kháng với các phương pháp điều trị dựa trên bạch kim. Đáng chú ý hơn là những khối u này biểu hiện sự tăng cao bất thường của alpha thụ thể folate (FRa). Nhằm giải quyết vấn đề này, Mirvetuximab Soravtansine-gynx đã được thử nghiệm. Thuốc là một loại kháng thể nhắm vào FRa được liên hợp với maytansinoid DM4 để hoạt động trên tubulin của tế bào. Một nghiên cứu gần đây khám phá tác động của Mirvetuximab Soravtansine-gynx đối với bệnh ung thư buồng trứng biểu mô và đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

Kết hợp Sotarasib và Panitumumab trong việc điều trị ung thư đại tràng với đột biến G12C ở protein KRAS​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tiêu Hóa​​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 22 tháng 1 năm 2024
Picture
Trong mỗi 100 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng, có khoảng 3 đến 4 người biểu hiện đột biến glycine-to-cysteine ở axit amin #12 của protein KRAS. Sự thay đổi di truyền cụ thể này có liên quan đến tiên lượng ảm đạm và đáp ứng hạn chế với các phương pháp điều trị thông thường. Trong khi Sotarasib, một chất ức chế nhắm vào KRAS đột biến, đã chứng minh hiệu quả trong bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, thì hiệu quả của nó lại bị cản trở ở bệnh ung thư đại trực tràng do sự phát triển của sức đề kháng, đặc biệt là thông qua việc kích hoạt lại thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) con đường. Do đó, một nghiên cứu, được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ của Amgen, đã được thực hiện để đánh giá tác động của việc kết hợp Sotarasib với Panitumumab, một chất ức chế EGFR, trong điều trị ung thư đại trực tràng chứa KRAS G12C đột biến.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá tác động của Erdafitinib, chất ức chế FGFR, đối với ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu,​ ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 17 tháng 1 năm 2024
Picture
Các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn hiện đang được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên cisplatin. Tuy nhiên, tiêu chí đủ điều kiện cho liệu pháp này khá nghiêm ngặt và hiệu quả của nó trong việc kiểm soát bệnh còn hạn chế. Ngoài ra, phương pháp điều trị bậc hai sử dụng thuốc ức chế PD-1 và PD-L1 đã được chứng minh là không hiệu quả. Do đó, nhu cầu cấp thiết phải có những can thiệp mới. Khoảng 1/5 số bệnh nhân này có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGFR), một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của chất ức chế FGFR có tên Erdafitinib trong việc giải quyết ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng thuốc ức chế RET kinase, Selpercatinib

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 10 tháng 1 năm 2024
Picture
Đối với những bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) không có đột biến với EGFR và ALK, liệu pháp tiêu chuẩn hiện nay là sự kết hợp giữa pembrolizumab với thuốc gốc bạch kim và pemeterxed. Tuy nhiên, tác dụng của nó đối với các trường hợp NSCLC có đột biến ở RET kinase ít được biết đến. Selpercatinib là một chất ức chế RET kinase có tính chọn lọc cao, do đó một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của nó trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ.
Đọc Tiếp >>>

So sánh hiệu quả của Selpercatinib với liệu pháp tiêu chuẩn Vandetanib hoặc Cabozantinib trong điều trị ung thư tuyến giáp tuỷ

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Tiểu Đường & Nội Tiết
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​
Đăng vào ngày 8 tháng 1 năm 2024
Picture
Ung thư tuyến giáp tủy gây ra bởi sự phát triển tế bào mất kiểm soát liên quan đến đột biến gen RET. Căn bệnh này hiện đang được điều trị bằng Vandetanib hoặc Cabozantinib. Hai tác nhân nêu trên có thể bám vào và làm ngưng hoạt động của RET kinase; tuy nhiên, các bài báo cáo đã phát hiện rằng các tác nhân này gây ra nhiều tác dụng phụ và tình trạng kháng thuốc. Do đó, các nghiên cứu đã được tiến hành để tìm ra phương pháp điều trị tốt hơn. Một bài báo đăng trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả của Selpercatinib - một chất ức chế RET kinase có tính chọn lọc cao, trong điều trị ung thư tuyến giáp tuỷ.
Đọc Tiếp >>>

Ngăn ngừa rủi ro tái bệnh ở các bệnh nhân bị ung thư phổi không tế bào nhỏ đã qua phẫu thuật bằng Durvalumab

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Hô Hấp
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​
Đăng vào ngày 27 tháng 11 năm 2023
Picture
Ở khoảng 30% các ca ung thư phổi không tế bào nhỏ, bệnh có thể được chữa bằng cách phẫu thuật cắt bỏ khối u. Nhưng, bệnh có thể tái phát ở gần phân nửa các ca trong vòng 5 năm sau phẫu thuật. Điều trị bằng hóa trị trước và sau phẫu thuật giúp gia tăng tỷ lệ sống sót trong vòng 5 năm 5%. Vì thế, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra các biện pháp tốt hơn, trong đó có một nghiên cứu được công bố trên tạp chí y học New England Journal of Medicine điều tra tính hiệu quả của Durvalumab.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Tarlatamab trong việc điều trị Ung thư phổi tế bào nhỏ​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu,​ Hô Hấp
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
​Được phiên dịch bởi ​Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 15 tháng 11 năm 2023
Picture
Ung thư phổi tế bào nhỏ được biết đến với tính chất hung hãn và có xu hướng tái phát ngay cả sau khi điều trị ban đầu. Các lựa chọn điều trị thứ cấp còn hạn chế, và các phương pháp điều trị hiện tại cho thấy mang lại hiệu quả tương đối thấp. Tarlatamab, một chất tham gia tế bào T đặc hiệu kép, hoạt động bằng cách tăng cường khả năng phát hiện các tế bào ung thư biểu hiện DLL-3 bởi tế bào T của bệnh nhân, do đó làm tăng khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư này. Công ty dược phẩm mang tên Amgen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Tarlatamab trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.
Đọc Tiếp >>>

So sánh sự hiệu quả của Enzalutamide, Leuprolide, và kết hợp cả hai trong việc điều trị ung thư tuyến tiền liệt​

CHỦ ĐỀ: ​Tiết Niệu,​ ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
​Được phiên dịch bởi ​Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 6 tháng 11 năm 2023
Picture
Các nghiên cứu giám sát trước đây đã quan sát thấy rằng bệnh tái phát xảy ra ở khoảng 50% bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt được hóa trị. Sự tái phát bệnh này được đặc trưng bởi sự gia tăng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) và mức độ tăng có liên quan nghịch với khả năng sống sót. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Enzalutamide, một chất ức chế thụ thể androgen và Leuprolide, một chất chủ vận hormone giải phóng gonadotropin, trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt tái phát.
Đọc Tiếp >>>

Đánh giá liệu pháp kết hợp Dabrafenib và Trametinib cho bệnh u thần kinh đệm ở trẻ em có đột biến BRAF V600E

CHỦ ĐỀ: Thần Kinh,​ ​Ung Bướu, Nhi Khoa​
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
​Được phiên dịch bởi ​Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 16 tháng 10 năm 2023
Picture
Glioma (u thần kinh đệm) là một khối u hệ thần kinh trung ương nguyên phát xuất phát từ tế bào thần kinh đệm. Đây là một căn bệnh phổ biến nhất ở bệnh nhi. Trong khi việc cắt bỏ và hóa trị đã cải thiện tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên 95%. Tuy nhiên, sự tái phát vẫn xảy ra trong nhiều ca mắc bệnh. Do vậy, nhu cầu nghiên cứu phương pháp điều trị mới là thiết yếu. Khoảng 20% u thần kinh đệm cấp độ thấp ở trẻ em có đột biến BRAF V600E. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để lý giải câu hỏi: Liệu Dabrafenib, chất ức chế BRAF V600E chọn lọc và Trametinib có thể mang lại lợi ích tương tự cho bệnh nhân nhi cũng như đối với người lớn hay không?
Đọc Tiếp >>>

Khả năng sử dụng Atezolizumab để chữa trị sarcoma phần mềm phế nang​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
​Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 20 tháng 9 năm 2023
Picture
Sarcoma phần mềm phế nang (ASPS) là một loại sarcoma mô mềm hiếm gặp có tỷ lệ sống sót sau 5 năm từ 20% đến 46%. Vì không có liệu pháp nào được phê duyệt cho ASPS nên một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra khả năng sử dụng Atezolizumab, một chất ức chế điểm kiểm tra miễn dịch ngăn chặn phối tử tử vong được lập trình 1. Do kết quả đầy hứa hẹn của nó, Atezolizumab đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm phê duyệt là điều trị ASPS.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị khối u rắn với đột biến KRAS G12C bằng Divarasib

CHỦ ĐỀ: Hô Hấp, ​Ung Bướu, ​Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
​Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 18 tháng 9 năm 2023
Picture
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng 12% trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) và 4% trường hợp ung thư đại trực tràng có đột biến glycine-to-cysteine ở axit amin thứ 12 của protein KRAS. Những trường hợp ung thư này thường được điều trị bằng các chất chống khối u như Sotorasib và Adagrasib; tuy nhiên, hiệu quả của chúng là dưới mức tối ưu. Vì vậy, cần có chất ức chế KRAS G12C mạnh hơn. Gần đây, một nghiên cứu đã công bố những phát hiện của họ về tính hiệu quả và an toàn của Divarasib trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Vorasidenib để chữa trị khối u nguyên bào thần kinh đệm với đột biến ở gen isocitrate dehydrogenase​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, Thần Kinh
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
​Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 11 tháng 9 năm 2023
Picture
Các số liệu thống kê cho thấy rằng ở người lớn, phần lớn các ca bệnh khối u não là u thần kinh đệm và gần như tất cả chúng đều có đột biến gen isocitrate dehydrogenase (IDH). Những gen IDH bị đột biến này dẫn đến sự tích tụ 2-hydroxyglutarate có thể ngăn cản quá trình hydroxymethyl hóa DNA và biểu hiện của gen trong mô u thần kinh đệm. Vorasidenib là một phân tử có thể vượt qua hàng rào máu não và ức chế phiên bản đột biến của IDH; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng của nó đối với các mô khối u thần kinh đệm ác tính.
Đọc Tiếp >>>

Hiệu quả lâm sàng của việc sử dụng tế bào T CAR, Axicabtagene Ciloleucel, trong việc chữa trị ung thư lympho tế bào B lớn

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 16 tháng 8 năm 2023
Picture
Hóa trị liều cao và ghép tế bào gốc tự thân (HDT-ASCT) được biết đến là các phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư hạch tế bào B lớn. Tuy nhiên, chỉ một nửa số bệnh nhân đủ điều kiện để áp dụng phương pháp điều trị này. Đối với những người được điều trị bằng phương pháp HDT-ASCT, tỷ lệ khỏi bệnh chỉ là 20%. Đối với những bệnh nhân không thể điều trị bằng phương pháp này, thời gian sống sót trung bình chỉ là 4,4 tháng. Axicabtagene ciloleucel được tìm thấy như một lựa chọn trị liệu mới mang lại kết quả đầy hứa hẹn trong các cuộc thử nghiệm ban đầu. Vì vậy một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sử dụng nó để điều trị ung thư hạch tế bào B lớn.
Đọc Tiếp >>>

Sự hiệu quả của osimertinib trong việc điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

CHỦ ĐỀ: Hô Hấp, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A.
Đăng vào ngày 9 tháng 8 năm 2023
Picture
Phác đồ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bao gồm phẫu thuật cắt bỏ khối u và hóa trị bổ trợ. Tuy nhiên, phương pháp hóa trị dài hạn này có hiệu quả thấp trong việc ngăn ngừa tái phát và tử vong, đặc biệt ở những bệnh nhân bị đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Osimertinib có khả năng ức chế cả EGFR bình thường hoặc đột biến. AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Osimertinib và kết quả đã được công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine.
Đọc Tiếp >>>

Pirtobrutinib, hợp chất ức chế BTK để chữa trị ung thư bạch cầu dòng lympho mãn tính

CHỦ ĐỀ: Dị Ứng & Miễn Dịch, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 7 tháng 8 năm 2023
Picture
Việc sử dụng các hoạt chất ức chế BTK như ibrutinib và zanubrutinib là một trong những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư bạch cầu mãn tính. Tuy nhiên, khả năng kháng lại các hoạt chất này có thể xuất hiện dưới dạng đột biến C481. Vì vậy, venetoclax có thể được sử dụng như liệu trình thay thế trong các trường hợp này. Tuy nhiên, việc sử dụng venetoclax lại đòi hỏi sự thận trọng trong việc gia tăng liều lượng trong môi trường điều trị nội trú. Gần đây, Pirtobrutinib, một chất ức chế BTK mới, đã được đánh giá để xem xét: liệu hoạt chất có thể sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu mãn tính, và kết quả đã được công bố trong bài nghiên cứu trên Tạp chí Y học New England.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng kháng thể dostarlimab để chữa trị ung thư nội mạc tử vong ​

CHỦ ĐỀ: Phụ & Sản Khoa, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Đăng vào ngày 10 tháng 7 năm 2023
Picture
Liệu trình hóa trị kết hợp giữa carboplatin và paclitaxel là phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư nội mạc tử cung, tuy nhiên, kết quả lâu dài của chúng tương đối kém. Dostarlimab là một kháng thể đơn dòng có thể bám vào và trung hòa các khối u nội mạc có nhiều các thụ thể PD-1. Để am hiểu sâu hơn về phương pháp điều trị ung thư, công ty dược phẩm GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá độ hiệu quả và an toàn của dostarlimab như một liệu pháp miễn dịch chống lại bệnh ung thư nội mạc tử cung.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị ung thư thận bằng kết hợp điều trị Cabozantinib, Nivolumab và Ipilimumab

CHỦ ĐỀ: Tiết Niệu, ​Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 12 tháng 6 năm 2023
Picture
Các chất kiểm soát sinh sản tế bào như cabozantinib và nivolumab đang là các phương pháp điều trị hàng đầu cho khối u ác tính ở tế bào thận, tuy nhiên, tỷ lệ hiệu quả của những liệu pháp này không đạt mức tối ưu. Tyrosine kinase là một chất truyền tín hiệu chính cho nhiều quá trình có lợi cho khối u như sự tăng trưởng, tái tạo mạch máu mới, điều chỉnh miễn dịch và di căn. Do đó, đây là một mục tiêu quan trọng cho liệu pháp phòng ngừa sự xuất hiện của khối u. Cabozantinib là một chất ức chế tyrosine kinase, và một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá sự hiệu quả và an toàn của nó khi sử dụng để điều trị u ác tính tế bào thận.
Đọc Tiếp >>>

So sánh sự hiệu quả của venetoclax và các phương pháp điều trị bệnh bạch cầu lympho mãn tính (CLL) khác

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 5 tháng 6 năm 2023
Picture
Các nghiên cứu lâm sàng trước đây đã phát hiện ra rằng việc kết hợp venetoclax và obinutuzumab đem lại hiệu quả trong việc ngăn cản sự phát triển của khối u của bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lympho mãn tính (CLL). Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất ít thông tin về hiệu quả của sự kết hợp này so với các phương pháp điều trị khác. Do đó, một nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên đã được tiến hành để so sánh kết quả sức khỏe của các bệnh nhân CLL được điều trị bằng kết hợp venetoclax-obinutuzumab với các phương pháp điều trị khác được khuyến nghị. 
Đọc Tiếp >>>

Kết hợp trifluridine, tipiracil với bevacizumab để điều trị ung thư ruột già di căn kháng trị

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
​
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Đăng vào ngày 31 tháng 5 năm 2023
Picture
Sau lần đầu tiên được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng di căn, bệnh nhân thường sẽ được điều trị bằng nhiều loại hóa trị. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này vẫn không mang lại sự hiệu quả ở một số bệnh nhân; những trường hợp này được xem là ung thư kháng trị. Sự kết hợp giữa trifluridine và tipiracil đã được chứng minh là một công cụ hữu ích để điều trị ung thư đại trực tràng di căn. Bevacizumab, một chất ức chế VEGF, là một liệu pháp khác có lợi ích lâm sàng rõ ràng trong việc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của việc kết hợp bevacizumab với trifluridine và tipiracil trong điều trị ung thư đại trực tràng di căn kháng trị.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng tế bào GD2-CART01 để điều trị ung thư nguyên bào thần kinh

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, Nhi Khoa, Thần Kinh
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 17 tháng 4 năm 2023
Picture
Ung thư nguyên bào thần kinh là một trong những tác nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở bệnh nhi. Các khối u nguyên bào này sản xuất rất nhiều protein disaloganglioside GD2; do đó, phương án điều trị với kháng thể đơn bào đem lại nhiều kết quả khả quan. Hiện nay, tế bào lympho T với thụ thể kháng nguyên dạng khảm (chimeric antigen receptors T-cell - CAR-T-cells) là một phương pháp điều trị ung thư tân tiến: các tế bào lympho T được lập trình để sản xuất thụ thể bám vào loại kháng nguyên xác định và diệt trừ tế bào ung thư. Vì thế, Cục quản lý Dược phẩm Ý tài trợ cho một nghiên cứu về khả năng điều trị khối u nguyên bào thần kinh bằng GD2-CART01 CAR-T-cells.
Đọc Tiếp >>>

Ức chế sự phát triển của các khối u desmoid bằng Nirogacestat

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 17 tháng 3 năm 2023
Picture
Mặc dù không di căn, các khối u xơ lành tính (desmoid tumors) vẫn gây ra đau đớn và ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan bị chèn ép. Các khối u này tạo lượng protein Notch-1 cao bất thường và khiến cho bệnh tình nghiêm trọng hơn. Nirogacestat, một chất ức chế γ-secretase, có thể gián đoạn việc truyền tín hiệu của protein Notch. Vì vậy, công ty dược phẩm trị liệu SpringWork đã tiến hành nghiên cứu khảo sát tính khả thi của việc sử dụng Nirogacestat trong điều trị khối u xơ lành tính.
Đọc Tiếp >>>

Khả năng sử dụng nicotinamide để ngăn ngừa ung thư da ở các bệnh nhân được cấy ghép nội tạng​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, Da Liễu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 10 tháng 3 năm 2023
Picture
Để giảm rủi ro cơ thể từ chối nội tạng được ghép, bệnh nhân được chữa trị với thuốc làm giảm hệ miễn dịch. Nhưng, khả năng chống tế bào ung thư bị suy giảm và gia tăng rủi ro ung thư da. Ở trong tế bào, nicotinamide (vitamin B3) giúp tái cấu tạo DNA sau khi tổn thương gây ra bởi tia cực tím. Vì thế hội đồng nghiên cứu y học của Úc đã tài trợ một nghiên cứu khảo sát khả năng dùng nicotinamide để ngăn ngừa ung thư da ở bệnh nhân được ghép nội tạng.
Đọc Tiếp >>>

Sử dụng Pembrolizumab trước và sau phẫu thuật cắt bỏ khối u ung thư da

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2023
Picture
Pembrolizumab là một loại kháng thể có khả năng bám vào PD-1 và có thể dẫn đến sự tiêu hủy của khối u. Vì thế thuốc được sử dụng sau phẫu thuật để ức chế tế bào ung thư. Bởi vì PD-1 vô hiệu hóa tế bào T chống khối u, sử dụng pembrolizumab trước phẫu thuật có khả năng gia tăng lợi ích. Một nghiên cứu đã so sánh việc sử dụng pembrolizumab trước và sau phẫu thuật với việc chỉ dùng pembrolizumab sau phẫu thuật.
Đọc Tiếp >>>

Điều trị ung thư tuyến tiền liệt di căn bằng rucaparib

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 1 tháng 3 năm 2023
Picture
Thuốc rucaparib có khả năng chặn sự phát triển của khối u bằng cách ức chế enzyme poly(ADP-ribose) polymerase (PARP). Loại thuốc ức chế PARP ngăn cản khả năng sửa chữa DNA mà tế bào của khối u sử dụng để tồn tại. Vì thế, một nghiên cứu đã khảo sát sự hiệu quả của rucaparib trong việc điều trị ung thư tuyến tiền liệt với đột biến BRCA và ATM.
Đọc Tiếp >>>

So sánh sự hiệu quả và tính an toàn giữa zanubrutinib và ibrutinib, một liệu trình điều tri ung thư bạch cầu kinh dòng lympho mạn tính (CLL) và small lymphocytic lymphoma (SLL)​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 13 tháng 2 năm 2023
Picture
Ibrutinib là loại thuốc ức chế protein BKT thế hệ 1 đang được sử dụng để điều trị bệnh ung thư bạch cầu kinh dòng lympho mạn tính (CLL) và small lymphocytic lymphoma (SLL). Nhưng thuốc có phản ứng phụ rất cao. Zanubrutinib là thuốc ức chế BKT thế hệ 2 với khả năng bám cụ thể vào BKT tốt hơn. Một nghiên cứu gần đây đã khảo sát liệu tính chất này có gia tăng sự hiệu quả và tính an toàn của Zanubrutinib.
Đọc Tiếp >>>

Sự hiệu quả của việc sử dụng sotorasib để chữa trị ung thư tuyến tụy với đột biến G12C ở protein KRAS

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 10 tháng 2 năm 2023
Picture
Protein KRAS cực kỳ quan trọng trong các đường truyền tính hiệu liên quan đến sự phát triển của tế bào. Đột biến ở protein này ảnh hưởng đến vòng sự sinh trưởng của tế bào và gia tăng khả năng ung thư. Đột biến thay đổi amino acid thứ 12 từ glycine thành cysteine (G12C) ở protein KRAS gây ra khoảng 2% các ca ung thư tuyến tụy. Vì độc tố cao của các loại thuốc chữa trị hiện tại, một liệu trình điều trị mới rất cần thiết. Sotorasib có khả năng bám vào và ức chế protein KRAS đột biến G12C, và công ty dược Amgen đã công bố kết quả nghiên cứu về sự hiệu quả của thuốc.
Đọc Tiếp >>>

Phối hợp sử dụng Adagrasib và Cetuximab trong việc điều trị ung thư ruột già di căn với đột biến G12C KRAS​

CHỦ ĐỀ: Ung Bướu, ​Tiêu Hóa
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Đăng vào ngày 3 tháng 2 năm 2023
Picture
Đột biến ở protein KRAS dẫn đến hơn phân nửa các ca ung thư ruột già. Đột biến thay đổi glycine ở vị trí amino acid số 12 thành cysteine (G12C) ở protein KRAS dẫn đến tình trạng kích hoạt có thể gia tăng nguy cơ ung thư. Dạng đột biến ở KRAS này gây ra 3% tới 4% các ca ung thư ruột già. Adagrasib có khả năng bám vào và ức chế KRAS G12C đột biến và các đường truyền tín hiệu có khả năng gia tăng rủi ro ung thư. Vì thế, Adagrasib có thể được sử dụng để điều trị ung thư, nhưng KRAS G12C vẫn có thể được kích hoạt bởi tính hiệu từ epidermal growth factor receptor (EGFR). Nghiên cứu KRYSTAL-1 khảo sát việc kết hợp Adagrasib với Cetuximab, một kháng thể có khả năng ức chế EGFR.
Đọc Tiếp >>>
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues