|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 12 tháng 7 năm 2024
|
|
Theo khuyến nghị hiện nay của Tổ chức Y tế Thế giới, liệu pháp kháng vi-rút đường uống hàng ngày, bao gồm tenofovir disoproxil fumarate, lamivudine và dolutegravir, nên được sử dụng để kiểm soát nhiễm HIV. Phương pháp này đã có hiệu quả trong việc kiểm soát HIV ở các quốc gia đang phát triển, mặc dù nó đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt lịch dùng thuốc. Liệu pháp điều trị dài hạn với Cabotegravir và Rilpivirine đã cho thấy hiệu quả cao trong các thử nghiệm được tiến hành ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Một bài báo gần đây đăng trên tạp chí y học The Lancet đã so sánh hiệu quả của liệu pháp Cabotegravir và Rilpivirine tác dụng kéo dài với liệu trình thuốc uống hiện tại trong việc kiểm soát HIV.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 10 tháng 7 năm 2024
|
|
Việt Nam được Tổ chức Y tế Thế Giới xếp vào loại quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề bởi bệnh lao, với 5% trường hợp có biểu hiện kháng đa thuốc. Trước năm 2019, phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh lao đa kháng thuốc và kháng rifampicin bao gồm các loại thuốc được tiêm trong khoảng thời gian 24 tháng. Vào năm 2020, khuyến nghị đã chuyển sang chế độ điều trị bằng đường uống trong 9 tháng. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí y học The Lancet đã đánh giá hiệu quả của chế độ điều trị bằng đường uống ngắn ngày này.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 8 tháng 7 năm 2024
|
|
Sự kết hợp giữa gemcitabine và cisplatin thường được sử dụng để điều trị ung thư đường mật và túi mật dạng nặng, nhưng tỷ lệ sống sót trung bình với chế độ điều trị này là dưới 12 tháng. Durvalumab, một kháng thể đơn dòng, có khả năng tăng cường hoạt động chống ung thư của hệ miễn dịch bằng cách cản sự tương tác ức chế miễn dịch giữa thụ thể PD-1 và PD-1L. AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Durvalumab trong điều trị ung thư đường mật và túi mật giai đoạn muộn.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 5 tháng 7 năm 2024
|
|
Ở nhiều quốc gia châu Á, liệu pháp tiêu chuẩn hiện nay đối với bệnh ung thư dạ dày có thể cắt bỏ bao gồm hóa trị sau phẫu thuật với docetaxel, oxaliplatin và tegafur-gimeracil-oteracil, để giảm thiểu nguy cơ tái phát bệnh. Một bài báo gần đây đăng trên tạp chí The Lancet đã điều tra tác dụng của việc bổ sung chất ức chế thụ thể PD-1, nivolumab, vào chế độ hóa trị liệu để điều trị ung thư dạ dày.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 7 năm 2024
|
|
Khiếm khuyết trong cơ cấu sửa chữa đột biến trong tế bào có ở 15% trường hợp ung thư ruột già không di căn. Hiện nay, những bệnh nhân này được điều trị với liệu trình hóa trị căn bản fluorouracil cộng với oxaliplatin sau phẫu thuật. Tuy nhiên, dữ liệu gần đây cho thấy phương pháp này có hiệu quả hạn chế. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của việc sử dụng liệu pháp miễn dịch nivolumab cộng với ipilimumab ở những bệnh nhân ung thư ruột già thiếu cơ chế sửa chữa đột biến.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 7 năm 2024
|
|
Việc gia tăng co bóp tim liên quan đến bệnh cơ tim phì đại có thể cản trở lưu thông máu. Mặc dù can thiệp phẫu thuật có thể giải quyết tình trạng này nhưng nó thường không lý tưởng do tính xâm lấn và khả năng cung cấp hạn chế tại các bệnh viện chuyên khoa. Aficamten, một loại thuốc làm giảm khả năng co bóp của tim bằng cách can thiệp vào cầu nối actin-myosin, là một phương pháp điều trị thay thế tiềm năng. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của aficamten trong việc kiểm soát bệnh cơ tim phì đại.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 6 năm 2024
|
|
Hầu hết các hướng dẫn lâm sàng hiện nay đều khuyến nghị sử dụng remdesivir, molnupiravir hoặc kết hợp ritonavir và nirmatrelvir để kiểm soát tình trạng nhiễm SARS-CoV-2 nghiêm trọng. Tuy nhiên, các nghiên cứu chứng minh tính hiệu quả của các thuốc chống vi-rút này đã được tiến hành trước khi các biến thể phụ Omicron trở nên phổ biến. Với lo ngại rằng các biến thể phụ của Omicron có chứa đột biến có thể làm mất tác dụng của phương pháp điều trị được khuyến nghị hiện tại, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của ensitrelvir - một chất ức chế protease đã được chứng minh là có hiệu quả chống lại Omicron trong các nghiên cứu trên động vật.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 26 tháng 6 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu trước đa chứng minh rằng việc nhiễm virus rubella, cytomegalovirus và coxsackievirus ở người mẹ trong lúc mang thai gia tăng nguy cơ dị tật tim bẩm sinh. Tuy nhiên, có ít nghiên cứu điều tra về sử ảnh hưởng của vi rút viêm gan B lên sự phát triển của thai nhi. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) đã báo cáo về mối liên quan giữa viêm gan B của mẹ và dị tật tim bẩm sinh ở trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 6 năm 2024
|
|
Với sự gia tăng phổ biến của vaping và thuốc lá điện tử có chứa nicotin, các cơ quan quản lý đã xác định rằng có lỗ hổng kiến thức về hiệu quả của liệu pháp thay thế nicotin trong việc cai thuốc lá điện tử. Cytisinicline là một chất chủ vận có thể ức chế thụ thể acetylcholine α4β2 nicotinic và có thể làm giảm sự phụ thuộc vào nicotin. Do đó, Viện Lạm dụng Ma túy Quốc gia đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của cytisinicline trong việc cai thuốc lá điện tử.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 6 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện rằng việc bổ sung axit béo không bão hòa đa chất béo omega-3 có thể làm giảm sưng viêm. So với các loại cá bình thường, dầu cá từ loài nhuyễn thể ở Nam Cực có nồng độ axit béo omega-3 cao hơn và nó cũng chứa astaxanthin - một chất chống oxy hóa có thể làm giảm viêm hiệu quả hơn. Do đó, Hội đồng Nghiên cứu Y tế và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ cho một nghiên cứu để kiểm tra tính hiệu quả của dầu nhuyễn thể trong việc giảm viêm và cải thiện sức khỏe của những bệnh nhân bị viêm xương khớp đầu gối.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 6 năm 2024
|
|
Thuốc benzodiazepin thường được kê đơn để điều trị chứng lo âu và mất ngủ ở phụ nữ đang mang thai. Tuy nhiên, phân tử này có thể vượt qua hàng rào nhau thai. Do đó đã có nhiều lo ngại rằng chất này có thể làm tăng nguy cơ phát triển thai nhi bất thường và sảy thai. Các nghiên cứu gần đây đã kiểm tra về mối liên hệ này có chứa một số yếu tố gây nhiễu như các căn bệnh đi kèm của người mẹ, lối sống và mức độ nghiêm trọng của chứng lo âu và mất ngủ. Vì vậy, một nghiên cứu trên toàn dân số đã được tiến hành để kiểm tra tác dụng của thuốc benzodiazepin trong tử cung.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 6 năm 2024
|
|
Hội chứng chylomicron máu gia đình làm tăng nguy cơ viêm tụy cấp do nồng độ chất béo trung tính cao.Các lipoprotein chylomicron và VLDL chịu trách nhiệm vận chuyển chất béo trung tính và chúng có protein APOC3 để ngăn chặn sự thoái hóa trong cơ thể con người. Olezarsen là một oligonucleotide antisense có thể ức chế sự biểu hiện của APOC3 và thúc đẩy quá trình thanh thải chất béo trung tính. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra tác dụng của Olezarsen đối với nguy cơ viêm tụy ở những bệnh nhân mắc hội chứng chylomicron máu gia đình.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 6 năm 2024
|
|
Statin và các liệu pháp hỗ trợ hạ lipid khác thường được sử dụng để kiểm soát lipoprotein mật độ thấp (LDL-C) mang cholesterol ở bệnh nhi mắc bệnh cholesterol máu gia đình. PSCK9 đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mức LDL-C cao bằng cách phá hủy thụ thể tế bào có chức năng loại bỏ LDL-C ra khỏi máu. Alirocumab là một kháng thể có thể ức chế PSCK9 và một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá khả năng của nó trong việc thúc đẩy thanh thải LDL-C nhằm kiểm soát tình trạng tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 6 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu trước đã tìm thấy rằng việc sử dụng thuốc chống rối loạn thần kinh gia tăng nguy cơ liên quan đến các bệnh tim mạch, suy hô hấp, rối loạn chuyển hóa và tử vong ở người lớn. Hiện nay, xu hướng sử dụng thuốc chống rối loạn thần kinh thế hệ thứ 2 ngoài chỉ định ở trẻ em và thanh thiếu niên đang gia tăng. Vì thế Viện Sức khỏe Trẻ em và Phát triển Con người Quốc gia Hoa Kỳ đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá sự ảnh hưởng của thuốc chống rối loạn thần kinh lên sức khỏe của trẻ em và thanh thiếu niên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 6 năm 2024
|
|
Sự gia tăng tỷ lệ rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) ở người lớn đồng nghĩa với việc số lượng thuốc kích thích trị rối loạn tăng động giảm chú ý được kê đơn cũng tăng lên. Tuy nhiên, có một số nghiên cứu còn hạn chế về điều tra tác dụng của những loại thuốc này đối với sự phát triển thần kinh của thai nhi. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra mối liên quan giữa việc sử dụng thuốc kích thích điều trị ADHD ở người mẹ và nguy cơ rối loạn phát triển thần kinh ở trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 6 năm 2024
|
|
Mặc dù chất lượng cuộc sống của những người bị ảnh hưởng bởi dị ứng sữa bò bị giảm đáng kể nhưng hiện tại không có biện pháp can thiệp sinh học nào được phê duyệt ngoài việc phòng tránh. Việc tiếp xúc trực tiếp với chất gây dị ứng đã được thử nghiệm như một công cụ kiểm soát dị ứng đậu phộng. Một bài nghiên cứu được xuất bản gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra việc sử dụng liệu pháp miễn dịch dưới da có chứa chất gây dị ứng sữa để kiểm soát dị ứng sữa bò ở trẻ em và thanh thiếu niên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 6 năm 2024
|
|
Trẻ sơ sinh thiếu máu do thiếu sắt là một vấn đề phổ biến trên toàn cầu và nghiêm trọng hơn ở những cộng đồng có nguồn lực hạn chế. Thiếu máu do thiếu sắt có thể cản trở sự phát triển thần kinh và gây suy giảm nhận thức cũng như các vấn đề về hành vi. Vì hàm lượng sắt trong sữa mẹ thấp nên có nhiều tranh cãi về sự cần thiết phải bổ sung sắt. Nhằm giải đáp về vấn đề này, một nghiên cứu đã được thực hiện ở Ba Lan và Thụy Điển để điều tra tác động của việc bổ sung sắt hàng ngày đối với sự phát triển nhận thức sớm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 6 năm 2024
|
|
Chất ức chế trực tiếp có tính chọn lọc cao yếu tố Xa thường được sử dụng để ngăn ngừa huyết khối. Tuy nhiên, thuốc kháng đông máu làm tăng nguy cơ xuất huyết. Nhằm giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một chất đối kháng chất ức chế có thể được sử dụng làm thuốc giải độc. Andexanet alfa là dạng yếu tố Xa không hoạt động có thể liên kết và vô hiệu hóa thuốc chống đông máu. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của andexanet alfa trong việc ngăn ngừa tử vong và giảm tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến xuất huyết nội sọ do thuốc ức chế yếu tố Xa gây ra.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 31 tháng 5 năm 2024
|
|
Nivolumab là một kháng thể đơn dòng tăng cường khả năng loại bỏ tế bào khối u của hệ miễn dịch bằng cách ức chế thụ thể PD-1. Việc sử dụng nivolumab bổ trợ cùng với hóa trị liệu dựa trên platinum đã giảm đáng kể nguy cơ tử vong và tái phát bệnh ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có thể phẫu thuật cắt bỏ. Do đó, một nghiên cứu đã điều tra việc sử dụng nivolumab chu phẫu, trước và sau phẫu thuật, có thể cải thiện kết quả lâm sàng bằng cách vô hiệu hóa các tế bào khối u còn sót lại và ức chế di căn vi mô.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 5 năm 2024
|
|
Tăng triglyceride máu có liên quan đến các hậu quả sức khỏe nghiêm trọng như viêm tụy cấp, và hiện nay các phác đồ điều trị vẫn còn giới hạn. Apoprotein C-III (APOC3) là một chất tự nhiên tăng mức triglyceride trong máu bằng cách ức chế lipoprotein lipase và giải độc gan. Do đó, một nghiên cứu mới đã được tiến hành để đánh giá tác động của Olezarsen - một oligonucleotide có thể trung hòa mRNA APOC3 trong việc quản lý tăng triglyceride máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 5 năm 2024
|
|
Việc sử dụng thuốc beta blocker sau khi bị nhồi máu cơ tim đã được báo cáo làm giảm nguy cơ tử vong đến 20%. Tuy nhiên, khuyến cáo về việc sử dụng thuốc đã được đưa ra trước khi có các biện pháp can thiệp hiện đại. Do đó, theo khuyến nghị của tổ chức Cochrane, Hội đồng Nghiên cứu Thụy Điển đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của thuốc beta blocker và các loại thuốc khác trong việc điều trị liên quan đến sức khỏe tim mạch sau nhồi máu cơ tim.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 5 năm 2024
|
|
Chứng thiểu sản xương có sự đặc trưng bởi sự kích hoạt quá mức của thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 3 (FGFR3), điều này làm gián đoạn quá trình cốt hóa nội bào. Vosoritide là một chất tương tự của peptide natriuretic loại c có thể liên kết và ức chế con đường protein kinase được hoạt hóa bằng mitogen xuôi dòng từ quá trình kích hoạt FGFR3. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Lancet đã điều tra tác dụng của Vosoritide trong việc điều trị chứng giảm sản sụn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 5 năm 2024
|
|
Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra khuyến nghị về hai loại vắc-xin sốt rét - RTS,S/AS01 và R21/ Matrix-M - dành cho trẻ em. Ngoài ra, điều trị dự phòng bằng hóa chất được khuyến cáo cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ bị thiếu máu nặng. CIS43LS là một kháng thể đơn dòng có thể liên kết với protein Plasmodium falciparum cirsporozoite được bảo tồn và vô hiệu hóa ký sinh trùng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng CIS43LS có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng ở người lớn. Vì vậy, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của CIS43LS trong việc ngăn ngừa bệnh sốt rét ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 5 năm 2024
|
|
Nguy cơ chậm phát triển, bệnh tim chuyển hóa và tử vong cao hơn đáng kể ở trẻ sinh non từ 32 đến 36 tuần. Tuy nhiên, hiện tại có một khoảng trống nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của nhóm dân số này. Vì vậy, Hội đồng Nghiên cứu Y tế New Zealand đã tài trợ một nghiên cứu để kiểm tra hiệu quả của các can thiệp hỗ trợ dinh dưỡng khác nhau đối với thành phần mỡ cơ thể và thời gian đạt đến ăn hoàn toàn qua đường tiêu hóa của trẻ sơ sinh sinh non.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 5 năm 2024
|
|
Trước đây, người ta đã quan sát thấy rằng điều trị bằng thuốc ức chế natri-glucose cotransporter 2 (SGLT2) giúp cải thiện kết quả tim mạch ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm. Do nguy cơ suy tim tăng cao sau cơn nhồi máu cơ tim, một nghiên cứu đã được bắt đầu để khám phá tiềm năng của empagliflozin như một biện pháp phòng ngừa.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 5 năm 2024
|
|
Vẫn có một số lượng hạn chế trong phương pháp điều trị bổ trợ đã được phê duyệt đối với ung thư biểu mô tế bào thận sau phẫu thuật cắt bỏ. Vào năm 2021, Pembrolizumab - một loại kháng thể nhắm vào protein chết tế bào 1 (PD-1) được lập trình đã được Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt sau khi mang lại những kết quả tạm thời đầy hứa hẹn. Một bài báo gần đây trên Tạp chí Y học New England cung cấp những hiểu biết sâu sắc hơn từ giai đoạn cuối của nghiên cứu đánh giá hiệu quả của pembrolizumab như một phương pháp điều trị bổ trợ cho ung thư biểu mô tế bào thận sau phẫu thuật cắt bỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 13 tháng 5 năm 2024
|
|
Sự gia tăng tỷ lệ béo phì song song với sự gia tăng xuất hiện suy tim với phân suất tống máu bảo tồn. Bệnh tiểu đường loại 2 (T2DM) có liên quan chặt chẽ với cả hai tình trạng này và những người mắc bệnh suy tim kèm theo T2DM phải chịu gánh nặng bệnh cao hơn và các bất lợi tim mạch khác. Một nghiên cứu gần đây nhằm đánh giá tiềm năng của Semaglutide, một chất đối kháng thụ thể peptide 1 giống glucagon thường được kê đơn cho bệnh đái tháo đường loại 2, trong điều trị suy tim với phân suất tống máu bảo tồn ở bệnh nhân béo phì.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 5 năm 2024
|
|
D-mannose là một đồng phân tự nhiên của glucose và nó có thể liên kết với các sợi vi khuẩn để ức chế sự bám dính vào các tế bào biểu mô. Một nghiên cứu gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã khám phá tiềm năng của nó trong việc ngăn ngừa sự xâm nhập của mầm bệnh tiết niệu trong trường hợp nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 5 năm 2024
|
|
Bệnh vảy phấn đỏ nang lông là một tình trạng viêm hiếm gặp có cơ chế hoạt động của hệ miễn dịch tương tự với bệnh vẩy nến như interleukin-23 tăng cao và kích hoạt tế bào T-helper 17. Bệnh vẩy nến có thể được điều trị bằng guselkumab, một kháng thể có thể liên kết với IL-23p19, và công ty dược phẩm Janssen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của nó trong điều trị bệnh vảy phấn hồng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 5 năm 2024
|
|
Hiện nay, phương pháp được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt đối với điều trị chứng rụng tóc nội tiết tố nam ở nam giới là finasteride qua đường uống và minoxidil dạng bôi ngoài da. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng có dẫn đến các tác dụng phụ như suy giảm sinh lý và kích ứng da đầu. Do đó, Hiệp hội Da liễu Brazil đã thực hiện một nghiên cứu để khám phá tính khả thi của việc sử dụng minoxidil đường uống nhằm kiểm soát chứng rụng tóc nội tiết tố nam.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 5 năm 2024
|
|
Liên quan đến vấn đề sinh non, trẻ sinh trước 30 tuần thai có nguy cơ cao mắc chứng loạn sản phế quản phổi - một tình trạng bị gây ra bởi sự phát triển của phổi bị gián đoạn. Các yếu tố như vi khuẩn Ureaplasma xâm nhập vào phổi và tình trạng viêm do bạch cầu trung tính gây ra góp phần vào nguy cơ này. Azithromycin - một loại kháng sinh macrolide có khả năng chống lại vi khuẩn và có liên quan đến việc giảm hoạt động của bạch cầu trung tính và hóa ứng động. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của azithromycin trong việc kiểm soát chứng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh non tháng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 1 tháng 5 năm 2024
|
|
Tăng Triglyceride máu nguyên phát liên quan đến việc tăng khả năng phát triển bệnh tim mạch xơ vữa động mạch, gan nhiễm mỡ không do rượu và viêm tụy cấp. Protein APOC3 được biết đến là có vai trò quan trọng trong vấn đề nêu trên vì nó gây ảnh hưởng trong việc cản trở sự phân hủy các lipoprotein và chylomicron giàu chất béo trung tính. Plozasiran - một RNA can thiệp nhỏ nhằm mục tiêu vào và làm suy giảm mRNA mã hóa protein APOC3. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của nó trong việc giải quyết tình trạng tăng triglycerid máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 4 năm 2024
|
|
Khoảng 5% trong số tất cả các trường hợp ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) biểu hiện sự sắp xếp lại gen anaplastic lympho kinase (ALK). Tập hợp con cụ thể này của NSCLC có thể được điều trị bằng hóa trị liệu kết hợp dựa trên bạch kim; tuy nhiên, phác đồ điều trị này có những cải thiện khiêm tốn về tỷ lệ sống sót và có nguy cơ tái phát bệnh tương đối cao. Alectinib là một chất ức chế ALK và một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của nó trong việc quản lý NSCLC dương tính với ALK.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 4 năm 2024
|
|
Sự phá hủy ống mật ở bệnh nhân viêm đường mật nguyên phát dẫn đến sự tích tụ mật có thể gây viêm và cuối cùng là xơ gan. Axit Ursodeoxycholic và axit obeticholic là hai phương pháp điều trị đã được phê duyệt để điều trị các tình trạng bảo vệ tế bào gan và tế bào cholangiocytes khỏi tổn thương do axit mật gây ra. Tuy nhiên, phác đồ điều trị này không mang lại hiệu quả trong khoảng một nửa số bệnh nhân được điều trị. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá khả năng của elafibranor - một chất chủ vận PPAR có thể làm giảm độc tính của mật và giảm viêm nhằm kiểm soát viêm đường mật nguyên phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 4 năm 2024
|
|
Hiện nay, sự kết hợp giữa 2 loại kháng vi-rút nirmatrelvir và ritonavir được sử dụng rộng rãi để điều trị nhiễm SARS-CoV-2. Việc sủ dụng liều trình này đã được công nhận mang lại sự hiệu ở người lớn chưa tiêm chủng. Tuy nhiên, tỷ lệ hiệu quả của chúng vẫn chưa được xác nhận rõ ràng khi so sánh giữa nhóm nhưng người đã tiêm vắc-xin và chưa được tiêm vắc-xin. Một nghiên cứu gần đây được đăng trên Tạp chí Y học New England đã điều tra mối tương tác giữa nirmatrelvir và tiêm chủng SARS-CoV-2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 4 năm 2024
|
|
Phần lớn các liệu trình can thiệp sinh học của bệnh Parkinson là tập trung vào liệu pháp thay thế dopamine do sự thiếu hụt dopamine liên quan đến căn bệnh này. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây đã xác định nguy cơ mắc bệnh Parkinson cao hơn ở những người mắc bệnh tiểu đường loại 2. Điều thú vị là những người được điều trị bằng chất chủ vận thụ thể peptide 1 giống glucagon (GLP-1R) dường như có nguy cơ phát triển bệnh Parkinson thấp nhất. Để giải đáp những phát hiện này, Bộ Y tế Pháp đã tài trợ một cuộc nghiên cứu nhằm điều tra tiềm năng của việc sử dụng Lixisenatide - chất chủ vận GLP-1R thường được kê đơn cho bệnh tiểu đường loại 2 để điều trị bệnh Parkinson.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 4 năm 2024
|
|
Các khối u ung thư vú biểu hiện thụ thể nội tiết (HR) nhưng không biểu hiện thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2) tạo thành loại ung thư vú phổ biến nhất. Ribociclib - một chất ức chế kinase phụ thuộc cyclin 4 và 6 đã chứng minh được độ hiệu quả trong việc ngăn chặn sự tiến triển của khối u và thường được sử dụng trong điều trị ung thư vú giai đoạn tiến triển. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của Ribociclib trong điều trị ung thư vú âm tính với HR2, HR2 giai đoạn đầu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 4 năm 2024
|
|
Trong thời kỳ mang thai, việc sử dụng thuốc có sự ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của thai nhi. Những phụ nữ bị mắc chứng động kinh thường cần dùng thuốc chống động kinh trong suốt thai kỳ. Nhiều nghiên cứu đã phát hiện rằng một số loại thuốc như topiramate, valproate và lamotrigine ảnh hưởng tiêu cực lên sự phát triển thần kinh của bào thai. Do đó, Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu để điều tra sự quan hệ giữa việc sử dụng thuốc chống động kinh của người mẹ và nguy cơ rối loạn phổ tự kỷ ở các trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 4 năm 2024
|
|
Tiêm chủng cho phụ nữ đang mang thai đã được chứng minh là một chiến lược hiệu quả để bảo vệ trẻ nhỏ khỏi bệnh tật. RSVPreF3-Mat là vắc-xin tiểu đơn vị nhắm mục tiêu RSV được thiết kế dành riêng cho phụ nữ đang thai. Thành phần bao gồm protein tổng hợp RSV ở dạng tiền pha của nó. Công ty dược phẩm GlaxoSmithKline đã hỗ trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của văc-xin RSVPreF3-Mat trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 4 năm 2024
|
|
Hóa trị liệu bạch kim từ lâu đã là phương pháp điều trị thông thường đối với ung thư biểu mô đường tiết niệu, nhưng hiệu quả của nó vẫn còn hạn chế, dẫn đến tỷ lệ sống sót sau 5 năm mắc bệnh là rất thấp. Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy kết quả đầy hứa hẹn với sự kết hợp của enfortumab vedotin, một kháng thể nhắm mục tiêu nectin-4 - một phân tử bám dính tế bào được biểu hiện quá mức trên các tế bào khối u - và pembrolizumab, một chất ức chế PD-1. Trước những phát hiện này, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hoạt tính chống ung thư được tăng cường của sự kết hợp enfortumab vedotin và pembrolizumab chống lại ung thư biểu mô đường tiết niệu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 4 năm 2024
|
|
Dị ứng thực phẩm là một tình trạng phổ biến ảnh hưởng đến mọi người ở mọi lứa tuổi, nhiều người trong số họ bị dị ứng với nhiều loại thực phẩm khác nhau. Hiện nay, chỉ có dị ứng đậu phộng mới có thể điều trị được bằng liệu pháp miễn dịch đường uống nhưng nó có liên quan đến nhiều tác dụng phụ và không thể giải quyết được nhiều loại dị ứng thực phẩm khác. Omalizumab là một kháng thể có thể vô hiệu hóa IgE và đã được phê duyệt để điều trị bệnh hen suyễn dị ứng và nổi mề đay. Vì vậy, Viện Dị Ứng và Bệnh Truyền Nhiễm Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá việc sử dụng Omalizumab trong điều trị nhiều loại dị ứng thực phẩm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 4 năm 2024
|
|
Mối liên hệ tiềm ẩn giữa việc nhiễm SARS-CoV-2 và sự suy giảm chức năng nhận thức, trí nhớ đã được phát hiện trong nhiều bài báo cáo gần đây. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm ủng hộ mối liên hệ này vẫn còn khá khan hiếm. Do đó, Viện Nghiên cứu Chăm sóc và Sức khỏe Quốc gia tại Vương quốc Anh đã khởi xướng và tiến hành một nghiên cứu quan sát nhằm làm sáng tỏ tác động của việc nhiễm SARS-CoV-2 đối với trí nhớ và chức năng nhận thức.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 4 năm 2024
|
|
Viêm đường mật nguyên phát là một chứng rối loạn gan hiếm gặp gây ảnh hưởng đến ống mật và dẫn đến tích tụ axit mật độc hại; hiện chỉ có một phương pháp điều trị được FDA chấp thuận: axit ursodeoxycholic. Tuy nhiên, loại thuốc này có liên quan đến các tác dụng phụ đáng kể như ngứa và chỉ cho thấy tỷ lệ đáp ứng vừa phải. Seladelpar là một tác nhân mới có khả năng kích hoạt thụ thể Delta được kích hoạt bằng chất tăng sinh (PPAR-delta) để giảm thiểu sự tích tụ axit mật. Tác nhân này đã được đánh giá về hiệu quả của nó trong điều trị viêm đường mật nguyên phát trong một nghiên cứu gần đây.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 4 năm 2024
|
|
Sử dụng thuốc tiêu huyết khối như alteplase trong vòng 4,5 giờ sau cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ hiện là liệu trình điều trị tiêu chuẩn. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến nghị sử dụng tenecteplase - một loại alteplase với mục đích tiêu huyết khối. Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng thuốc tiêu huyết khối sau 4,5 giờ kể từ khi khởi phát bệnh vẫn chưa được hiểu rõ. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của việc can thiệp chậm trễ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 1 tháng 4 năm 2024
|
|
Nhiễm trùng đường tiết niệu (UTI) là một căn bệnh phổ biến được điều trị thành công bằng kháng sinh beta-lactam như cefepime - một loại cephalosporin thế hệ thứ tư. Tuy nhiên, đã xuất hiện sự đề kháng kháng sinh, đặc biệt ở dạng beta-lactamease. Vì vậy, một chất ức chế beta-lactamase mới Taniborbactam đã được chọn nhằm kết hợp với cefepime để điều trị UTI trong một nghiên cứu gần đây.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 3 năm 2024
|
|
Sự tương tác giữa CD40 và CD40L đóng vai trò then chốt trong việc kích hoạt hệ thống miễn dịch. Ở những người mắc bệnh đa xơ cứng, biểu hiện CD40L tăng cao sẽ thúc đẩy phản ứng tế bào lympho T mạnh mẽ và góp phần vào sự tiến triển của bệnh. Frexalimab là một kháng thể được tạo ra để bám vào CD40L và gây cản trở sự tương tác nêu trên với hứa hẹn sẽ giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của bệnh. Một nghiên cứu gần đây đánh giá hiệu quả của Frexalimab trong việc kiểm soát bệnh đa xơ cứng đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2024
|
|
Bệnh vẩy nến phát sinh từ phản ứng viêm do interleukin-23 (IL-23) điều phối; vì vậy các phương pháp điều trị hiện tại tập trung hướng vào cytokine này. Hiện nay có nhiều liệu pháp đang nhắm đến IL-23 được biết như là liệu pháp sinh học cần tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da, tuy nhien, các liệu pháp này gây ra sự bất tiện trong việc điều trị. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá độ hiệu quả của JNJ-77242113 - một chất đối kháng thụ thể IL-23 mới có thể dùng bằng đường uống trong điều trị bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 3 năm 2024
|
|
Qua thời gian phát triển kinh tế gần đây, tỷ lệ mắc bệnh viêm gan nhiễm mỡ không do rượu bia ở Việt Nam đang gia tăng. Tuy nhiên, hiện tại không có phương pháp điều trị nào được phê duyệt cho tình trạng này. Resmetirom là một dược phẩm mới có khả năng kích hoạt thụ thể hormone tuyến giáp beta (THR-β) trong gan và kích hoạt lại quá trình oxy hóa axit béo để giảm thiểu nguy cơ xơ hóa. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của Resmetirom trong điều trị viêm gan nhiễm mỡ không do rượu bia.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 22 tháng 3 năm 2024
|
|
Thai kỳ là thời gian đầy thách thức phức tạp cho cả mẹ và thai nhi, vì thế việc chữa hoặc phòng bệnh bằng thuốc hoặc tiêm chủng phải được xem xét kỹ. Do đó, vắc xin ngừa COVID-19 đã trải qua quá trình thử nghiệm nghiêm ngặt để xác định tính an toàn của chúng đối với việc mang thai và sự phát triển sau này của trẻ. Một nghiên cứu điều tra tác động của việc tiêm chủng ngừa COVID-19 của mẹ đối với sự phát triển thần kinh của con cái đã được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association).
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 20 tháng 3 năm 2024
|
|
Hiện tại cộng đồng y khoa vẫn chưa thống nhất về biện pháp khử trùng trước khi phẫu thuật xương khớp. Các hợp chất như chlorhexidine, cồn isopropyl, và iodophor thường được sử dụng. Nhưng, không có sự đồng đều ở công thức và nồng độ của các hợp chất trên ở các cơ sở y tế khác nhau. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để khỏa xát công thức khử trùng tốt nhất để chuẩn bị cho phẫu thuật xương khớp.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 18 tháng 3 năm 2024
|
|
Để ngăn ngừa bệnh sốt xuất huyết, hiện có 2 loại vắc xin đã được phê duyệt: Dengvaxia và Qdenga. Việc sử dụng Dengvaxia được giới hạn ở các vùng đang có nhiều ca sốt xuất huyết để ngăn ngừa nhiễm trùng nặng ở những người có miễn dịch chưa đầy đủ. Mặc dù Qgenda có hiệu quả cao nhưng cần phải tiêm một loạt 2 liều. Vì vậy, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Butantan–Dengue, một loại vắc xin đơn liều, trong phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 15 tháng 3 năm 2024
|
|
Các trẻ sinh non có nguy cơ cao bị nhiễm trùng huyết, viêm ruột và loạn sản phế quản phổi. Những tình trạng có thể góp phần gây ra các vấn đề về phát triển thần kinh. Sữa mẹ có khả năng giảm những rủi ro này và thúc đẩy sự phát triển thần kinh. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tác động của sữa mẹ so với sữa công thức dành cho trẻ sinh non đối với sự phát triển thần kinh của trẻ non tháng.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 3 năm 2024
|
|
Tổ chức Y tế Thế giới ủng hộ việc phân phối azithromycin hàng loạt trong cộng đồng hai năm một lần cho trẻ sơ sinh dưới 1 tuổi sống ở những vùng có tỷ lệ tử vong ở trẻ em cao. Phương pháp can thiệp dạng rộng này giúp giảm 25% nguy cơ tử vong. Tuy nhiên, việc thực hiện các chương trình quy mô lớn đòi hỏi phải có sự phối hợp hậu cần sâu rộng. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu việc sử dụng azithromycin trong các lần khám định kỳ có mang lại kết quả tương đương hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 11 tháng 3 năm 2024
|
|
Suy tuyến sinh dục ở nam giới dưới dạng rối loạn chức năng tinh hoàn hoặc tuyến yên có liên quan đến việc giảm mật độ xương. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng liệu pháp testosterone có thể đảo ngược tình trạng thiếu xương này. Tuy nhiên, nghiên cứu trước đó có những hạn chế về thời lượng và số lượng người tham gia. Do đó, một nghiên cứu lâm sàng đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của testosterone trong việc ngăn ngừa gãy xương ở nam giới bị suy sinh dục.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 3 năm 2024
|
|
Huyết áp cao khi mang thai gây nguy hiểm cho sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Từ năm 2011, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo bổ sung canxi từ 1500 mg đến 2000 mg để giảm nguy cơ tiền sản giật. Tuy nhiên, liều lượng cao gây ra những hạn chế về chi phí và thách thức đối với việc tuân thủ điều trị, đặc biệt ở những nơi có nguồn lực hạn chế. Do đó, Quỹ Bill và Melinda Gates đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của việc giảm liều canxi trong việc ngăn ngừa tăng huyết áp khi mang thai.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2024
|
|
Transthyretin (TTR) là một hormone vận chuyển quan trọng có chức năng sắp xếp tetramer. Đột biến có thể dẫn đến sự phân ly monome từ tetramer, dẫn đến sự lắng đọng của nó trong cơ tim và gây ra bệnh cơ tim amyloid transthyretin. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của Acoramidis, một chất ổn định TTR có ái lực gắn kết cao, trong điều trị bệnh cơ tim amyloid transthyretin.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 3 năm 2024
|
|
Đột biến ở thụ thể tyrosine kinase ROS1 chiếm 2% trong tổng số các trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Hiện nay, Crizotinib và Entrecitinib là hai chất ức chế ROS1 đang được sử dụng. Tuy nhiên, sự hiệu quả của hai loại thuốc trên tương đối giới hạn bởi vì tình trạng đề kháng đã xuất hiện ở hơn nửa số trường hợp. Và hoạt động trong não của thuốc không tốt và vô hiệu hóa trong các tình huống di căn. Repotrecitinib, một chất đối kháng ROS1 phân tử nhỏ mới, đại diện cho một lựa chọn thế hệ tiếp theo có khả năng thâm nhập vào não dễ dàng và không phụ thuộc vào cơ chế đề kháng thuốc. Một nghiên cứu gần đây đã công bố những phát hiện về hiệu quả của Repotrecitinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ dương tính với ROS1.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 3 năm 2024
|
|
Do lưu lượng máu lưu thông không đều ở những bệnh nhân bị rung tâm nhĩ (AFib), nên nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ tăng cao. Do đó, các bệnh nhân bị AFib thường được dùng thuốc ức chế Vitamin K và thuốc chống đông máu để giảm nguy cơ đông máu. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng Apixaban hiệu quả hơn Aspirin trong việc giảm tỷ lệ tắc mạch phổi và đột quỵ và không tăng nguy cơ xuất huyết. Do đó, Viện Nghiên cứu Y tế Canada đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá khả năng dùng Apixaban trong việc kiểm soát nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân rung nhĩ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc tiếp xúc với các loại khí ô nhiễm trong nhà có khả năng dẫn đến việc chậm phát triển ở các trẻ sơ sinh. Tuy rằng cơ chế không rõ, có khả năng rằng chất thải gia tăng mức độ oxi hóa dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch và gây ra tình trạng thiếu năng lượng và chất dinh dưỡng.Ở các quốc gia kém và đang phát triển, các trẻ sơ sinh có khả năng tiếp xúc với khí ô nhiễm tại gia cao vì các bé có thời gian lớn ở nhà, đặc biệt khi gia đình sử dụng than hoặc củi để nấu ăn và tạo nhiệt. Tổ chức của Bill và Melinda Gates đã đầu tư một nghiên cứu điều tra liệu sử dụng nguồn nhiên liệu ít ô nhiễm như khí ga lỏng có thể giảm nguy cơ chậm phát triển.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 26 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc tiếp xúc với các chất thải ô nhiễm trong nhà gia tăng 30% rủi ro tử vong do viêm phổi nhi khoa. Các nghiên cứu quan sát trước đã ghi nhận việc tiếp xúc với các chất thải có bán kính nhỏ hơn 2.5 micrometer (PM2.5) gia tăng rủi ro viêm phổi. Việc đốt các nhiên liệu sinh khối như củi và than thải ra rất nhiều các chất ô nhiễm trên. Do tỷ lệ dùng nhiên liệu sinh khối cao ở các quốc gia có thu nhập thấp và vừa, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh sử ảnh hưởng của nhiên liệu sinh khối và khí ga lỏng lên hệ hô hấp nhi khoa.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 2 năm 2024
|
|
Bệnh thận IgA là nguy cơ hàng đầu dẫn đến bệnh viêm cầu thận. Bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch của người bệnh sản xuất kháng thể IgA không có galactose mà các kháng thể khác có thể bám vào để hình thành các hợp thể mà cầu thận không đào thải được. Một nghiên cứu đã khám phá sự hiệu quả của Sibeprenlimab trong việc quản lý bệnh thận IgA. Thuốc hoạt động bằng cách ức chế protein APRIL, một protein quan trọng trong hoạt động miễn dịch của tế bào B.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 21 tháng 2 năm 2024
|
|
Việc trữ nước do quá trình nội tiết renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) gia tăng nguy cơ viêm cầu thận phân đoạn khu trú. Sử dụng các dược phẩm ức chế quá trình RAAS đã có sự hiệu quả trong việc giảm protein niệu và ảnh hưởng lên thận. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh sự hiệu quả của Sparsentan, thuốc ức chế thụ thể endothelin-angiotensin, với Irbesartan, thuốc ức chế thụ thể angiotensin II trong việc quản lý bệnh viêm cầu thận phân đoạn khu trú.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 2 năm 2024
|
|
Nirsevimab là một kháng thể đơn dòng nhắm vào dạng tiền hợp nhất của protein F trên virus hợp bào hô hấp (RSV) ở trẻ em. Gần đây Nirsevimab đã được chấp thuận sử dụng ở Hoa Kỳ và Liên minh Châu u để điều trị các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp dưới do RSV gây ra ở trẻ em. Với thời gian bán thải kéo dài, một nghiên cứu đã khám phá tiềm năng của Nirsevimab trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ trong tình trạng khỏe mạnh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 2 năm 2024
|
|
Sau cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ thoáng qua, 10% bệnh nhân bị đột quỵ tái phát trong vòng 90 ngày. Aspirin, được biết đến với đặc tính kháng tiểu cầu và là một liệu pháp quản lý phổ biến. Để hiểu biết hơn về những lợi ích tổng hợp tiềm năng của Aspirin, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá độ hiệu quả của liệu pháp kép với aspirin và clopidogrel.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 2 năm 2024
|
|
Phụ nữ phải chịu gánh nặng hậu quả nặng nề do các bệnh lây truyền qua đường tình dục gây ra nhiều hơn so với nam giới hoặc người chuyển giới nữ. Với tỷ lệ mắc bệnh chlamydia, lậu và giang mai ngày càng tăng. Vì vậy, sự tập trung đổi mới vào việc hoàn thiện các biện pháp phòng ngừa là thực sự cần thiết. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá những lợi ích tiềm năng của doxycycline sau khi phơi nhiễm bệnh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 2 năm 2024
|
|
Trẻ sinh non phải đối mặt với nguy cơ mắc hội chứng suy hô hấp ở trẻ sơ sinh do tình trạng phổi kém phát triển. Phương pháp quản lý thông thường như là thở áp lực dương liên tục (CPAP) mang lại kết quả dưới mức tối ưu ở trẻ sơ sinh. Với mức độ chất hoạt động bề mặt bị thiếu hụt – một sự pha trộn quan trọng giữa phospholipid và protein có thể ngăn ngừa xẹp phế nang. Vì vậy, việc đặt ống nội khí quản trở nên cần thiết để sử dụng chất hoạt động bề mặt. Tuy nhiên, đặt nội khí quản ở trẻ sơ sinh có liên quan đến nhiều tác dụng phụ khác nhau. Do đó, một nghiên cứu điều tra khả năng nâng cao kết quả hô hấp thông qua việc sử dụng chất hoạt động bề mặt hầu họng để dự phòng trước khi áp dụng CPAP.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 2 năm 2024
|
|
Hiện nay, thuốc mỡ bôi ngoài da corticosteroid là phương pháp điều trị tại nhà được lựa chọn cho bệnh viêm da dị ứng và bệnh vẩy nến mảng bám. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này có liên quan đến các tác dụng phụ toàn thân đáng kể. Phản ứng miễn dịch cơ bản trong những tình trạng này được thúc đẩy bởi các cytokine từ tế bào T trợ giúp loại 2, bao gồm IL-4, IL-13, TNF-alpha và các loại khác. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá tiềm năng của PF-07038124 - một chất ức chế phosphodiesterase-4 có khả năng phá vỡ sự khuếch đại tín hiệu nội bào trong điều trị viêm da dị ứng và bệnh vẩy nến mảng bám.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 2 năm 2024
|
|
Tirzepatide được sử dụng rộng rãi để kiểm soát bệnh tiểu đường nhờ khả năng tăng cường insulin và xu hướng giảm cân ở những bệnh nhân đang điều trị. Do đó, một nghiên cứu gần đây được đăng trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ nhằm xem xét tác động của việc sử dụng lâu dài Tirzepatide đối với việc kiểm soát cân nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 2 năm 2024
|
|
U hắc tố màng bồ đào là một dạng ung thư da hiếm gặp liên quan đến mắt và là một thách thức khác biệt so với u ác tính ở da. Một khi sự di căn xảy ra và tiên lượng trở nên xấu hơn dẫn đến tỷ lệ sống trung bình là một năm. Thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch thường mang lại hiệu quả trong điều trị khối u ác tính ở da, tuy nhiên, chúng không hiệu quả đối với khối u ác tính ở màng bồ đào. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Tebentafusp - một thụ thể tổng hợp đặc hiệu kép được thiết kế để tăng cường khả năng trung hòa các tế bào u ác tính màng bồ đào được làm giàu bằng gp100 bởi tế bào T.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 2 năm 2024
|
|
Vắc xin cúm thông thường thường được sản xuất bằng trứng gà, dẫn đến khả năng đột biến kháng nguyên hemagglutinin và sự không phù hợp giữa vắc xin và vi rút lưu hành. Vắc-xin cúm tứ giá FluBlok của Sanofi sử dụng quy trình tái tổ hợp giúp loại bỏ nhu cầu về trứng gà, do đó làm giảm khả năng xảy ra sự không phù hợp liên quan đến đột biến. Những phát hiện của một nghiên cứu đánh giá hiệu quả vắc xin của vắc xin cúm tứ giá FluBlok tái tổ hợp (RIV4) gần đây đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 31 tháng 1 năm 2024
|
|
Các loại vắc xin hiện có được thiết kế để bảo vệ chống lại vi rút hợp bào hô hấp (RSV) sử dụng glycoprotein F tiền hợp nhất (preF) làm kháng nguyên chính nhằm chứng minh tính hiệu quả của chúng. Moderna là một công ty dược phẩm gần đây đã sử dụng công nghệ mRNA và trước đây được sử dụng cho vắc xin SARS-CoV-2 để tạo ra protein RSV. Kết quả của một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của vắc xin RSV preF mRNA đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 1 năm 2024
|
|
Semaglutide là một peptide giống glucagon 1 (GLP-1) và thường được sử dụng trong việc điều trị bệnh tiểu đường nhờ khả năng kích thích sản xuất insulin. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc sử dụng GLP-1 làm giảm khả năng xảy ra các biến cố tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí Y học New England nhằm đánh giá xem liệu tác dụng bảo vệ của Semaglutide ở bệnh nhân tiểu đường có mở rộng đến những người thừa cân và béo phì không mắc bệnh tiểu đường hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2024
|
|
Ung thư biểu mô buồng trứng được coi là khối u phụ khoa nguy hiểm nhất được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên bạch kim đã được chứng minh độ hiệu quả. Tuy nhiên, trong các trường hợp tái phát, những khối u này phát triển khả năng đề kháng với các phương pháp điều trị dựa trên bạch kim. Đáng chú ý hơn là những khối u này biểu hiện sự tăng cao bất thường của alpha thụ thể folate (FRa). Nhằm giải quyết vấn đề này, Mirvetuximab Soravtansine-gynx đã được thử nghiệm. Thuốc là một loại kháng thể nhắm vào FRa được liên hợp với maytansinoid DM4 để hoạt động trên tubulin của tế bào. Một nghiên cứu gần đây khám phá tác động của Mirvetuximab Soravtansine-gynx đối với bệnh ung thư buồng trứng biểu mô và đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 1 năm 2024
|
|
Bệnh tiểu đường loại 1 biểu hiện thông qua sự tấn công tự miễn dịch vào các tế bào beta tuyến tụy chịu trách nhiệm sản xuất insulin. Vì vậy, việc làm suy giảm phản ứng miễn dịch này có thể có khả năng trì hoãn sự khởi phát của bệnh tiểu đường. Teplizumab là một kháng thể có khả năng liên kết với tế bào T CD3 và ức chế phản ứng của chúng đã nhận được sự chấp thuận của Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm để điều trị ngắn hạn ở bệnh tiểu đường loại 1. Do đó, công ty dược phẩm sinh học Sanofi đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm khám phá khả năng kéo dài thời gian điều trị bằng Teplizumab để làm chậm thêm sự tiến triển của bệnh tiểu đường loại 1.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong mỗi 100 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng, có khoảng 3 đến 4 người biểu hiện đột biến glycine-to-cysteine ở axit amin #12 của protein KRAS. Sự thay đổi di truyền cụ thể này có liên quan đến tiên lượng ảm đạm và đáp ứng hạn chế với các phương pháp điều trị thông thường. Trong khi Sotarasib, một chất ức chế nhắm vào KRAS đột biến, đã chứng minh hiệu quả trong bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, thì hiệu quả của nó lại bị cản trở ở bệnh ung thư đại trực tràng do sự phát triển của sức đề kháng, đặc biệt là thông qua việc kích hoạt lại thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) con đường. Do đó, một nghiên cứu, được hỗ trợ bởi nguồn tài trợ của Amgen, đã được thực hiện để đánh giá tác động của việc kết hợp Sotarasib với Panitumumab, một chất ức chế EGFR, trong điều trị ung thư đại trực tràng chứa KRAS G12C đột biến.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 1 năm 2024
|
|
Các bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường Loại 1 cần phải bổ sung insulin do tuyến tụy của họ không có khả năng tạo ra đủ insulin. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc bảo vệ các tế bào beta sản xuất insulin còn sót lại có thể giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của bệnh. Baricitinib, một chất ức chế JAK, có khả năng cản trở hoạt động phá hủy của tế bào T CD8 tự phản ứng. Do đó, một nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng của Baricitinib trong việc ngăn chặn các phản ứng tự phản ứng và bảo tồn các tế bào beta sản xuất insulin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 1 năm 2024
|
|
Các bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn hiện đang được điều trị bằng hóa trị liệu dựa trên cisplatin. Tuy nhiên, tiêu chí đủ điều kiện cho liệu pháp này khá nghiêm ngặt và hiệu quả của nó trong việc kiểm soát bệnh còn hạn chế. Ngoài ra, phương pháp điều trị bậc hai sử dụng thuốc ức chế PD-1 và PD-L1 đã được chứng minh là không hiệu quả. Do đó, nhu cầu cấp thiết phải có những can thiệp mới. Khoảng 1/5 số bệnh nhân này có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi (FGFR), một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của chất ức chế FGFR có tên Erdafitinib trong việc giải quyết ung thư biểu mô đường tiết niệu di căn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong bối cảnh mối lo ngại ngày càng tăng xung quanh tình trạng kháng kháng sinh, các cuộc thảo luận liên quan đến việc sử dụng các phác đồ kháng sinh ngắn hạn thay vì các phác đồ dài hạn đã được tiến hành nhằm giảm áp lực chọn lọc quá mức đối với các kiểu hình kháng thuốc. Một nghiên cứu gần đây đã được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của liệu pháp ngắn hạn đối với bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu ở trẻ em được công bố kết quả trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 1 năm 2024
|
|
Trong giai đoạn thai kì, nhiễm SARS-CoV-2 gây nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Do đó, việc ưu tiên tiêm chủng cho nhóm này là rất quan trọng. Mặc dù các nghiên cứu quan sát trước đây đã chứng minh tính an toàn của vắc xin đối với thai nhi nhưng chúng vẫn có những hạn chế về phạm vi kết quả được kiểm tra. Một bài viết nghiên cứu gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu sâu hơn về tác động của vắc xin mRNA COVID-19 đối với sức khỏe trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 1 năm 2024
|
|
Đối với những bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ (NSCLC) không có đột biến với EGFR và ALK, liệu pháp tiêu chuẩn hiện nay là sự kết hợp giữa pembrolizumab với thuốc gốc bạch kim và pemeterxed. Tuy nhiên, tác dụng của nó đối với các trường hợp NSCLC có đột biến ở RET kinase ít được biết đến. Selpercatinib là một chất ức chế RET kinase có tính chọn lọc cao, do đó một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của nó trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 1 năm 2024
|
|
Ung thư tuyến giáp tủy gây ra bởi sự phát triển tế bào mất kiểm soát liên quan đến đột biến gen RET. Căn bệnh này hiện đang được điều trị bằng Vandetanib hoặc Cabozantinib. Hai tác nhân nêu trên có thể bám vào và làm ngưng hoạt động của RET kinase; tuy nhiên, các bài báo cáo đã phát hiện rằng các tác nhân này gây ra nhiều tác dụng phụ và tình trạng kháng thuốc. Do đó, các nghiên cứu đã được tiến hành để tìm ra phương pháp điều trị tốt hơn. Một bài báo đăng trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả của Selpercatinib - một chất ức chế RET kinase có tính chọn lọc cao, trong điều trị ung thư tuyến giáp tuỷ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 1 tháng 12 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng các kháng thể đặc hiệu beta-amyloid có thể được sử dụng để ngăn chặn sự suy giảm nhận thức liên quan đến bệnh Alzheimer. Tuy nhiên, mức độ lợi ích lâm sàng liên quan đến khả năng liên kết và loại bỏ beta-amyloid của kháng thể. Gantenerumab là một kháng thể đã được chứng minh là có ái lực cao với beta-amyloid. Gần đây, Tạp chí Y học New England đã xuất bản bài báo nhằm báo cáo về hiệu quả của Gantenerumab trong việc kiểm soát sự phát triển của bệnh Alzheimer.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 11 năm 2023
|
|
Run lắc đầu là một rối loạn vận động phổ biến gây ra hiện tượng đầu gật gật hoặc lắc lắc với tỷ lệ mắc là khoảng 1%. Run lắc đầu là chứng bệnh hay gặp ở người cao tuổi: tỷ lệ mắc bệnh tăng lên 5% ở người trên 65 tuổi. Tuy nhiên, phương pháp điều trị hiệu quả vẫn còn bị hạn chế. Vì vậy, Bộ Y tế Pháp đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sử dụng độc tố Botulinum trong việc kiểm soát chứng run lắc đầu.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 11 năm 2023
|
|
Ở khoảng 30% các ca ung thư phổi không tế bào nhỏ, bệnh có thể được chữa bằng cách phẫu thuật cắt bỏ khối u. Nhưng, bệnh có thể tái phát ở gần phân nửa các ca trong vòng 5 năm sau phẫu thuật. Điều trị bằng hóa trị trước và sau phẫu thuật giúp gia tăng tỷ lệ sống sót trong vòng 5 năm 5%. Vì thế, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra các biện pháp tốt hơn, trong đó có một nghiên cứu được công bố trên tạp chí y học New England Journal of Medicine điều tra tính hiệu quả của Durvalumab.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 24 tháng 11 năm 2023
|
|
Khoảng 70% các trẻ từ 3 tới 4 tháng tuổi bị ảnh hưỡng bởi bệnh trào ngược dạ dày. Trong các trường hợp trầm trọng, thuốc ức chế proton được sử dụng để giảm việc sản xuất acid dạ dày. Nhưng việc gia tăng độ pH dạ dày có thể dẫn đến các triệu chứng không mong đợi. Một nghiên cứu gần đây đã điều tra các rủi ro của việc sử dụng thuốc ức chế proton ở các bệnh nhi.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 22 tháng 11 năm 2023
|
|
Bệnh ngứa sần cục (prurigo nodularis), là một bệnh mang tính chất lâu dài. Triệu chứng của bệnh là kết quả của sự kích ứng của tế bào miễn dịch Th2 & Th17 và có thể được điều trị bởi tính chất kiềm chế IL-4 và IL-17 của Dupilumab. Vì tế bào Th2 sử dụng IL-33 trong quá trình gây viêm, các dược phẩm với khả năng ức chế IL-33 có thể được sử dụng để điều trị bệnh ngứa sần cục. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí New England Journal of Medicine đã điều tra khả năng chữa bệnh ngứa sần cục của thuốc ức chế IL-33, Nemolizumab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 20 tháng 11 năm 2023
|
|
Phương pháp điều trị COVID-19 bằng cách sử dụng huyết tương của người đã mắc COVID-19 đã khỏi để điều trị các bệnh nhân đang mắc COVID-19 đã được chứng minh là một phương pháp điều trị hiệu quả. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu tìm hiểu về tác dụng của việc điều trị bằng phương pháp được nêu trên đối với bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp tính. Do đó, một nghiên cứu do Trung tâm Kiến thức Chăm sóc Sức khỏe Bỉ tài trợ đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng huyết tương người khỏi bệnh trong điều trị hội chứng suy hô hấp cấp tính do COVID-19 gây ra.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 17 tháng 11 năm 2023
|
|
Bệnh amyloidosis transthyretin gây ra bởi trong quá trình gấp TTR protein xảy ra lỗi. Bệnh amyloidosis transthyretin có khả năng dẫn đến tử vong vì liên quan đến bệnh cơ tim và dẫn đến thời gian sống sót trung bình từ 2 đến 6 năm. Patisiran, một tác nhân can thiệp RNA, có khả năng bám vào protein TTR và hủy chuỗi protein TTR. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm hiểu thêm về tác động trong điều trị của Patisiran đối với bệnh amyloidosis transthyretin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 15 tháng 11 năm 2023
|
|
Ung thư phổi tế bào nhỏ được biết đến với tính chất hung hãn và có xu hướng tái phát ngay cả sau khi điều trị ban đầu. Các lựa chọn điều trị thứ cấp còn hạn chế, và các phương pháp điều trị hiện tại cho thấy mang lại hiệu quả tương đối thấp. Tarlatamab, một chất tham gia tế bào T đặc hiệu kép, hoạt động bằng cách tăng cường khả năng phát hiện các tế bào ung thư biểu hiện DLL-3 bởi tế bào T của bệnh nhân, do đó làm tăng khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư này. Công ty dược phẩm mang tên Amgen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Tarlatamab trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 13 tháng 11 năm 2023
|
|
Nhiễm SARS-CoV-2 trầm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng viêm hô hấp cấp độ nặng; những trường hợp không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Simvastatin là một loại thuốc hạ lipid máu có tác dụng chống viêm và đã được chứng minh là có lợi cho những bệnh nhân bị hội chứng suy hô hấp cấp tính kèm theo tình trạng viêm cấp độ nặng. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: Liệu simvastatin có thể hữu ích trong điều trị COVID-19 hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 10 tháng 11 năm 2023
|
|
Việc sử dụng máy trợ thở trong diều trị các bệnh nhân có vấn đề liên quan đến đường hô hấp đã làm tăng nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp và có thể gây tử vong. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc kháng sinh dự phòng có thể ngăn ngừa nhiễm trùng cho các bệnh nhân điều trị bằng máy trợ thở. Dựa trên cơ sở lý luận này, Bộ Y tế Pháp đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng amikacin dạng hít để ngăn ngừa nhiễm trùng đường hô hấp ở những bệnh nhân đang sử dụng máy trợ thở.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 8 tháng 11 năm 2023
|
|
Các cuộc phẫu tạo hình khớp nhằm thay thế hoặc chỉnh sửa khớp gối và khớp háng ngày càng phổ biến do dân số ngày càng già đi. Trong quá trình phẫu thuật khớp, cephalosporin thứ nhất và thứ hai, chẳng hạn như cefazolin, thường được sử dụng để ngăn ngừa nhiễm trùng. Tuy nhiên, do sự gia tăng của nhiễm trùng bệnh viện gây ra bởi Staphylococcus Aureus kháng methicillin (MRSA) thì cần có biện pháp dự phòng hiệu quả hơn. Để giải quyết mối lo ngại này, Hội đồng Nghiên cứu Y tế và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung vancomycin vào chế độ điều trị dự phòng cho bệnh nhân trải qua phẫu thuật tạo hình khớp.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 6 tháng 11 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu giám sát trước đây đã quan sát thấy rằng bệnh tái phát xảy ra ở khoảng 50% bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt được hóa trị. Sự tái phát bệnh này được đặc trưng bởi sự gia tăng nồng độ kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) và mức độ tăng có liên quan nghịch với khả năng sống sót. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Enzalutamide, một chất ức chế thụ thể androgen và Leuprolide, một chất chủ vận hormone giải phóng gonadotropin, trong điều trị ung thư tuyến tiền liệt tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 3 tháng 11 năm 2023
|
|
Nhồi máu cơ tim có thể gây chết tế bào tim, và đồng thời cản trở quá trình lưu thông máu huyết. Rối loạn chức năng tim này được gọi là suy tim và sự gián đoạn dẫn truyền điện bình thường có thể dẫn đến rung tâm nhĩ. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu việc loại bỏ mô chết bằng cắt bỏ qua ống thông có thể giúp cải thiện kết quả lâm sàng của bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối và rung nhĩ hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 1 tháng 11 năm 2023
|
|
Saw Palmetto đã được bán rộng rãi như một phương thuốc thảo dược để điều trị và ngăn ngừa chứng tăng sản tuyến tiền liệt lành tính (BPH) ở nam giới lớn tuổi. Mặc dù việc sử dụng nó phổ biến trên toàn cầu nhưng vẫn thiếu nghiên cứu khoa học để chứng minh tính hiệu quả của nó. Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Y học New England năm 2006 đã nghiên cứu hiệu quả của cây palmetto trong việc kiểm soát và ngăn ngừa chứng tăng sản tuyến tiền liệt lành tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 30 tháng 10 năm 2023
|
|
Viêm màng não do lao gây ra là mối đe dọa đến tính mạng đối với những bệnh nhân mắc bệnh HIV (virus gây suy giảm miễn dịch ở người). Các nghiên cứu trước đây đã xác định được lợi ích lâm sàng tiềm tàng của việc sử dụng dexamethasone để giảm thiểu tình trạng viêm não do vi khuẩn lao gây ra. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của dexamethasone trong điều trị bệnh viêm màng não do lao ở người lớn nhiễm HIV.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 27 tháng 10 năm 2023
|
|
Người lớn tuổi sống trong các cơ sở viện dưỡng lão có nguy cơ lây nhiễm cao hơn bởi vì liên quan đến các vấn đề độ tuổi và các bệnh lý nền. Ngoài ra, các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc ở viện dưỡng lão cao gấp 4 đến 6 lần so với ở bệnh viện. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra lợi ích tiềm tàng của việc phi thực dân hóa toàn cầu có thể làm giảm nguy cơ nhiễm trùng và nhu cầu nhập viện.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 10 năm 2023
|
|
Polymyalgia rheumatica là một bệnh tự miễn dịch thường ảnh hưởng các cá nhân trên 50 tuổi. Tình trạng viêm của bệnh phụ thuộc trên cytokine interleukin-6 (IL-6). Hiện tại glucocorticoids như prednisone và methotrexate đang được sử dụng để điều trị bệnh này. Nhưng, thuốc có nhiều phản ứng phụ và không ngăn cản việc tái bệnh. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả và an toàn của kháng thể chống IL-6, Sarilumab, trong việc điều trị bệnh polymyalgia rheumatica.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 23 tháng 10 năm 2023
|
|
Khoảng 10% đến 30% tổng số trường hợp rối loạn trầm cảm nặng kháng lại các phương pháp điều trị thông thường dưới dạng thuốc như là loại ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) và loại ức chế tái hấp thu serotonin-norepinephrine (SNRI). Esketamine và Quetiapine là hai phương pháp điều trị thay thế khác với hứa hẹn mang lại nhiều kết quả mong đợi. Một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra tính hiệu quả của việc sử dụng Esketamine với SSRI và SNRI trong điều trị trầm cảm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 20 tháng 10 năm 2023
|
|
Sự hình thành bất thường của một loại protein có tên là beta-amyloid trong não ở bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer gây ra sự gián đoạn trong việc truyền thông tin trong não và dẫn đến các biểu hiện lâm sàng liên quan đến tình trạng bệnh; vì chúng phá hỏng liên kết giữa các tế bào não. Do đó, việc loại bỏ các mảng beta-amyloid này có thể làm giảm các triệu chứng. Vì vậy, Viện Lão hóa Quốc gia (Tiếng Anh: National Institute on Aging) đã tài trợ cho một nghiên cứu để điều tra tác dụng của solanezumab trong việc kiểm soát bệnh Alzheimer.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 18 tháng 10 năm 2023
|
|
Thuốc chống đông máu bằng đường uống thường được sử dụng để kiểm soát đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân mắc bệnh rung tâm nhĩ ở tim mạch (Tiếng anh: Atrial high-rate episodes (AHREs). Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh độ hiệu quả của vệc sử dụng thuốc đông máu ở các bệnh nhân được chuẩn đoán mắc bệnh rung tâm nhĩ (AHREs). Để giải quyết vấn đề này, Trung tâm Nghiên cứu Tim mạch Đức đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm điều tra những lợi ích tiềm tàng của edoxaban ở những bệnh nhân mắc AHRE.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 16 tháng 10 năm 2023
|
|
Glioma (u thần kinh đệm) là một khối u hệ thần kinh trung ương nguyên phát xuất phát từ tế bào thần kinh đệm. Đây là một căn bệnh phổ biến nhất ở bệnh nhi. Trong khi việc cắt bỏ và hóa trị đã cải thiện tỷ lệ sống sót sau 5 năm lên 95%. Tuy nhiên, sự tái phát vẫn xảy ra trong nhiều ca mắc bệnh. Do vậy, nhu cầu nghiên cứu phương pháp điều trị mới là thiết yếu. Khoảng 20% u thần kinh đệm cấp độ thấp ở trẻ em có đột biến BRAF V600E. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để lý giải câu hỏi: Liệu Dabrafenib, chất ức chế BRAF V600E chọn lọc và Trametinib có thể mang lại lợi ích tương tự cho bệnh nhân nhi cũng như đối với người lớn hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 13 tháng 10 năm 2023
|
|
Hiện nay, đối với bệnh SARS-CoV-2, các phương pháp điều trị bằng thuốc kháng vi-rút được xem là biện pháp tối ưu nhất.Tuy nhiên, chi phí mỗi liều quá cao khiến chúng ít được sử dụng hơn đối với những cơ sở có sự hạn chế về kinh tế. Dexamethasone và budesonide đã được chứng minh cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc kiểm soát nhiễm trùng cấp tính. Fluticasone, một loại glucocorticoid khác, có thể được sử dụng ở dạng hít vào để giảm viêm. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá tiềm năng của fluticasone trong việc kiểm soát COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 11 tháng 10 năm 2023
|
|
Khi tỷ lệ kháng kháng sinh tăng lên thì ngày càng có nhiều trường hợp vi khuẩn kháng đa thuốc xảy ra. Ngay cả những loại thuốc kháng sinh cuối cùng như methicillin cũng đã bị vô hiệu hóa; do vậy, nhu cầu nghiên cứu một loại thuốc kháng sinh mới là thiết yếu. Ceftobiprole là cephalosporin thế hệ thứ 5 có thể can thiệp vào quá trình hình thành vách vi khuẩn. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện với sự tài trợ của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ nhằm đánh giá hiệu quả của nó trong điều trị nhiễm trùng tụ cầu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 09 tháng 10 năm 2023
|
|
Công nghiệp hóa và phát triển kinh tế đã dẫn đến tỷ lệ béo phì gia tăng, hơn nữa, các bệnh chuyển hóa như viêm gan nhiễm mỡ không do rượu (NASH) ngày càng gia tăng ở Việt Nam. NASH được đặc trưng bởi sự tích tụ chất béo dư thừa trong gan, dẫn đến viêm và xơ hóa tiềm ẩn. Các nghiên cứu gần đây cho thấy pegozafermin có khả năng tăng cường quá trình dị hóa chất béo. Một nghiên cứu đã được tiến hành nhằm mục đích trả lời cho câu hỏi:Liệu tác dụng chuyển hóa của pegozafermin có thể được khai thác để điều trị NASH hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 06 tháng 10 năm 2023
|
|
Bệnh béo phì là một yếu tố góp phần vào sự khởi phát và tiến triển của bệnh suy tim. Căn bệnh này có thể làm trầm trọng hơn các triệu chứng cũng như giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Ban đầu, Semaglutide là một loại thuốc được phê duyệt để kiểm soát bệnh tiểu đường có tác dụng giảm cân đáng kể. Ngoài ra, Semaglutide còn là đối tượng của một nghiên cứu nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu Semaglutide có thể cải thiện kết quả lâm sàng cho bệnh nhân béo phì bị suy tim hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 04 tháng 10 năm 2023
|
|
Các trường hợp trẻ em mắc bệnh trào ngược bàng quang niệu quản từ trung bình đến nặng, việc điều trị bằng kháng sinh liên tục là phương pháp được áp dụng phổ biến hiện nay nhằm giảm nguy cơ nhiễm trùng đường tiết niệu - có khả năng tiến triển thành viêm bể thận và dẫn đến sẹo thận. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh kéo dài có khả năng làm ảnh hưởng hệ vi khuẩn đường ruột của trẻ và góp phần tăng nguy cơ đề kháng kháng sinh. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá những ưu điểm và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến việc điều trị dự phòng bằng kháng sinh ở trẻ em được chẩn đoán mắc chứng trào ngược bàng quang niệu quản cấp độ III, IV và V.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 02 tháng 10 năm 2023
|
|
Các bài nghiên cứu trước đây đã tìm thấy rằng có một mối liên hệ giữa suy tim và thiếu sắt và điều đó có thể làm xấu đi tiên lượng của bệnh nhân. Do đó, những nỗ lực đã được thực hiện để am hiểu hơn về cơ chế cơ bản của kết nối này. Tuy nhiên, vẫn còn có sự đồng thuận hạn chế về lợi ích thực tế của việc bổ sung sắt. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để làm sáng tỏ hơn về tác động của việc bổ sung sắt carboxymaltose đối với sức khỏe của những người bệnh nhân suy tim.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM |
Đăng vào ngày 29 tháng 9 năm 2023
|
|
Bệnh béo phì là căn bệnh có nguy cơ cao và là tiền thân của một số bệnh liên quan đến hệ tim mạch và tuần hoàn. Chất chủ vận thụ thể nonpeptide glucagonlike peptide-1 (GLP-1) orforglipron là một phác đồ điều trị mới cho bệnh nhân béo phì. Tuy nhiên, hiệu quả và độ an toàn của nó vẫn chưa được chứng minh một cách rõ ràng. Vì vậy, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra tính hiệu quả và an toàn của orforgliron trong việc giảm cân ở người lớn mắc bệnh béo phì.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 27 tháng 9 năm 2023
|
|
Việc sử dụng và nghiện cần sa có liên quan đến việc tăng nguy cơ rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, sự liên kết này chưa được giải thích một cách rõ ràng về mặt lý thuyết. Một nghiên cứu được thực hiện ở Đan Mạch nhằm kiểm tra mối quan hệ giữa chứng rối loạn sử dụng cần sa với chứng trầm cảm và rối loạn lưỡng cực
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 25 tháng 9 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã quan sát thấy trầm cảm và suy giảm nhận thức là di chứng của mắc bệnh COVID-19; tuy nhiên, cơ chế chính xác đằng sau sự liên kết này vẫn chưa được xác định rõ ràng. Vì vậy, một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ đã điều tra tác động của việc nhiễm SARS-CoV-2 lên não, đặc biệt là các vùng trên não bộ có thể liên quan đến rối loạn tâm trạng và khả năng tâm thần.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Được phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM |
Đăng vào ngày 22 tháng 9 năm 2023
|
|
Pitavastatin được sử dụng để giảm lượng cholesterol và triglycerides trong máu. Vì thế, thuốc có ảnh hưởng tích cực lên sức khỏe tim mạch bằng việc gia tăng cholesterol HDL. Các bệnh nhân bị nhiễm HIV có khả năng bị các hội chứng tim mạch cao hơn thường, nhưng quá trình tương tác giữa 2 yếu tố. Vì thế một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả của pitavastatin trong việc ngăn ngừa các hội chứng tim mạch ở các bệnh nhân HIV dương tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 20 tháng 9 năm 2023
|
|
Sarcoma phần mềm phế nang (ASPS) là một loại sarcoma mô mềm hiếm gặp có tỷ lệ sống sót sau 5 năm từ 20% đến 46%. Vì không có liệu pháp nào được phê duyệt cho ASPS nên một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra khả năng sử dụng Atezolizumab, một chất ức chế điểm kiểm tra miễn dịch ngăn chặn phối tử tử vong được lập trình 1. Do kết quả đầy hứa hẹn của nó, Atezolizumab đã được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm phê duyệt là điều trị ASPS.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 18 tháng 9 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng 12% trường hợp ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) và 4% trường hợp ung thư đại trực tràng có đột biến glycine-to-cysteine ở axit amin thứ 12 của protein KRAS. Những trường hợp ung thư này thường được điều trị bằng các chất chống khối u như Sotorasib và Adagrasib; tuy nhiên, hiệu quả của chúng là dưới mức tối ưu. Vì vậy, cần có chất ức chế KRAS G12C mạnh hơn. Gần đây, một nghiên cứu đã công bố những phát hiện của họ về tính hiệu quả và an toàn của Divarasib trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Được phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM |
Đăng vào ngày 15 tháng 9 năm 2023
|
|
Các tế bào truyền dẫn thần kinh cảm nhận tính đau bằng cách sử dụng các cổng dẫn điện Natri V1.8. Các nghiên cứu trước sử đã tìm thấy rằng hợp chất VX-548 có khả năng ức chế các cổng Natri V1.8 và có khả năng giảm đau ở các nghiên cứu ở chuột. Vì thế, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả và an toàn của VX-548 dạng uống trong việc giúp giảm đau ở các bệnh nhân mới phẫu thuật.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 13 tháng 9 năm 2023
|
|
Mặc dù đã có nhiều liệu pháp được phê duyệt để điều trị bệnh Alzheimer nhưng vẫn chưa có nhiều tiến bộ trong việc nghiên cứu phương pháp phòng ngừa tối ưu. Chế độ ăn nhiều chất béo ở phương Tây có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh mãn tính. Và chế độ ăn Địa Trung Hải đã được chứng minh là mang lại lợi ích cho sức khỏe. Vì vậy, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra tác động của việc thay đổi chế độ ăn uống đối với nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 11 tháng 9 năm 2023
|
|
Các số liệu thống kê cho thấy rằng ở người lớn, phần lớn các ca bệnh khối u não là u thần kinh đệm và gần như tất cả chúng đều có đột biến gen isocitrate dehydrogenase (IDH). Những gen IDH bị đột biến này dẫn đến sự tích tụ 2-hydroxyglutarate có thể ngăn cản quá trình hydroxymethyl hóa DNA và biểu hiện của gen trong mô u thần kinh đệm. Vorasidenib là một phân tử có thể vượt qua hàng rào máu não và ức chế phiên bản đột biến của IDH; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng của nó đối với các mô khối u thần kinh đệm ác tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 8 tháng 9 năm 2023
|
|
Retatrutide là một dược phẩm mới được sản xuất bởi công ty dược Eli Lilly. Công dụng của nó có thể hoạt động như một chất chủ vận với peptide 1 giống glucagon và polypeptide insulinotropic phụ thuộc glucose. Do đó, loại dược phẩm này có thể cạnh tranh với các phân tử này để giành được thụ thể và ngắt quãng đường truyền tín hiệu dẫn đến việc lưu trữ năng lượng và tích tụ chất béo. Thông tin về hiệu quả và độ an toàn của Retatrutide gần đây đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 6 tháng 9 năm 2023
|
|
Kiểm soát đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường bằng tiêm insulin hằng ngày được biết đến như một phác đồ điều trị phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, không ít số lượng bệnh nhân quên tiêm insulin và dẫn đến nguy hiểm tính mạng. Vì thế, độ hiệu quả của việc tiêm insulin glargine U100 hàng ngày có thể bị giảm xuống. Để ngăn ngừa tình trạng này, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tính khả thi của việc tiêm insulin icodec mỗi tuần một lần trong việc kiểm soát lượng đường trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 4 tháng 9 năm 2023
|
|
Protein transthyretin được dùng để vận chuyển thyroxine và retinol tới gan qua đường máu và dịch não tủy. Nhưng, khi protein bị lỗi, transthyretin có thể bị ứ ở tế bào cơ tim và dẫn đến đông cứng. Khi lượng transthyretin gia tăng, bệnh amyloidosis có thể giảm khả năng hoạt động tâm trương và dẫn đến rối loạn nhịp tim và ảnh hưởng đến chức năng tâm thu. Hiện tại, Tafamidis là loại thuốc duy nhất được cho phép điều trị transthyretin amyloidosis. Tafamidis có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng nhưng không giúp ngăn bệnh. Một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra khả năng điều trị transthyretin amyloidosis của loại thuốc mới mang tên NI006.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 8 năm 2023
|
|
Angiotensinogen là một hợp chất quan trọng trong quá trình gây bệnh cao huyết áp bởi vì nó có thể được chuyển hóa thành angiotensin. Zilebesiran là một dược phẩm mới có khả năng bám vào thụ thể asialoglycoprotein và ức chế quá trình hình thành angiotensinogen trong gan. Một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty dược phẩm Alnylam đã điều tra sự hiệu quả và tính an toàn của Zilebesiran trong việc chữa trị bệnh cao huyết áp.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 8 năm 2023
|
|
Tenofovir alafenamide (TAF) được biết đến như một tiền chất mới của tenofovir được phát triển để điều trị cho bệnh nhân nhiễm virus viêm gan B mãn tính (HBV) với liều thấp hơn tenofovir disoproxil fumarate (TDF). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng TAF được chuyển đến tế bào gan hiệu quả hơn. Tuy nhiên, mức độ cải thiện tính an toàn trên thận và xương của TAF và TDF vẫn chưa được xác định rõ ràng. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để so sánh độ hiệu quả và an toàn của tenofovir alafenamide (TAF) với tenofovir disoproxil fumarate (TDF) trong điều trị nhiễm viêm gan B mãn tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 8 năm 2023
|
|
Nhiều nghiên cứu trong lịch sử cho thấy IgG kháng polysaccharide (CPS) đặc hiệu huyết thanh ở trẻ sơ sinh có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh liên cầu khuẩn nhóm B. Vắc xin liên hợp glycoconjugate 197 CPS hóa trị sáu (GBS6) đang được phát triển như một loại vắc-xin dành cho phụ nữ đang mang thai để ngăn ngừa bệnh liên cầu khuẩn nhóm B ở trẻ sơ sinh. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả của vắc xin GBS6 trong việc ngăn ngừa mắc bệnh Streptococcus nhóm B ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 21 tháng 8 năm 2023
|
|
Chứng rối loạn phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bị gây ra bởi tình trạng viêm loại 2 được điều phối bởi các cytokine như IL-4, IL-5 và IL-13. Dupilumab là một kháng thể đơn dòng có thể liên kết với thụ thể chung giữa IL-4 và IL-13. Hiện nay, có rất nhiều giả thuyết tin rằng việc ngừng sử dụng dupilumab có thể làm giảm cường độ viêm và mức độ nghiêm trọng của COPD. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá giả thuyết trên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 16 tháng 8 năm 2023
|
|
Hóa trị liều cao và ghép tế bào gốc tự thân (HDT-ASCT) được biết đến là các phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư hạch tế bào B lớn. Tuy nhiên, chỉ một nửa số bệnh nhân đủ điều kiện để áp dụng phương pháp điều trị này. Đối với những người được điều trị bằng phương pháp HDT-ASCT, tỷ lệ khỏi bệnh chỉ là 20%. Đối với những bệnh nhân không thể điều trị bằng phương pháp này, thời gian sống sót trung bình chỉ là 4,4 tháng. Axicabtagene ciloleucel được tìm thấy như một lựa chọn trị liệu mới mang lại kết quả đầy hứa hẹn trong các cuộc thử nghiệm ban đầu. Vì vậy một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá khả năng sử dụng nó để điều trị ung thư hạch tế bào B lớn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 14 tháng 8 năm 2023
|
|
Sau khi xảy ra tai nạn chấn thương, mất máu quá nhiều có thể dẫn đến tổn thương mô và sốc giảm thể tích máu. Nếu sự mất máu này được ngăn chặn trước khi nhập viện, nó có thể làm giảm nguy cơ tử vong. Axit tranexamic là một chất chống tiêu sợi huyết đã được sử dụng rộng rãi để kiểm soát xuất huyết. Một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng của việc sử dụng axit tranexamic trước khi nhập viện trong việc ngăn ngừa tử vong sau tai nạn chấn thương.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 9 tháng 8 năm 2023
|
|
Phác đồ điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bao gồm phẫu thuật cắt bỏ khối u và hóa trị bổ trợ. Tuy nhiên, phương pháp hóa trị dài hạn này có hiệu quả thấp trong việc ngăn ngừa tái phát và tử vong, đặc biệt ở những bệnh nhân bị đột biến thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Osimertinib có khả năng ức chế cả EGFR bình thường hoặc đột biến. AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của Osimertinib và kết quả đã được công bố trên Tạp chí New England Journal of Medicine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 7 tháng 8 năm 2023
|
|
Việc sử dụng các hoạt chất ức chế BTK như ibrutinib và zanubrutinib là một trong những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư bạch cầu mãn tính. Tuy nhiên, khả năng kháng lại các hoạt chất này có thể xuất hiện dưới dạng đột biến C481. Vì vậy, venetoclax có thể được sử dụng như liệu trình thay thế trong các trường hợp này. Tuy nhiên, việc sử dụng venetoclax lại đòi hỏi sự thận trọng trong việc gia tăng liều lượng trong môi trường điều trị nội trú. Gần đây, Pirtobrutinib, một chất ức chế BTK mới, đã được đánh giá để xem xét: liệu hoạt chất có thể sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu mãn tính, và kết quả đã được công bố trong bài nghiên cứu trên Tạp chí Y học New England.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 2 tháng 8 năm 2023
|
|
Việc xâm nhập và lây nhiễm tế bào gan đòi hỏi virus viêm gan D (HDV) phải tận dụng được kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HBsAg). Từ đó, nguy cơ mắc cùng lúc virus viêm gan B (HBV) và virus viêm gan D tăng cao, và gia tăng nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Mặc dù, đã có nhiều cách kiềm chế sự phát triển của virus viêm gan B, hiện tại vẫn chưa có phương pháp điều trị virus viêm gan D nào được chấp thuận. Ngoài HBsAg, virus viêm gan D còn sử dụng peptit đồng vận chuyển sodium taurocholate (NTCP) để xâm nhập vào tế bào gan. Trong bối cảnh này, Bulevirtide - một chất ức chế NTCP - đã được thử nghiệm để đánh giá tiềm năng lâm sàng trong việc điều trị nhiễm virus viêm gan D.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 31 tháng 7 năm 2023
|
|
Do hiệu ứng gây viêm của IL-23 trong viêm loét đại tràng, các dược phẩm có tính ức chế IL-23 đã được thử nghiệm và sử dụng tại Hoa Kỳ. IL-23 bao gồm hai đơn vị riêng biệt: p40 và p19, tồn tại duy nhất cho IL-23. Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 trước đó đã khẳng định tiềm năng của Mirikizumab - một loại kháng thể nhắm vào đơn vị p19 của IL-23. Do đó, công ty dược phẩm Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 để đánh giá độ hiệu quả và an toàn của Mirikizumab trong điều trị viêm đại tràng loét.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 26 tháng 7 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh được việc sử dụng thuốc chống đông máu giảm khả năng bị đột quỵ cục bộ và bệnh tổn ngoại vi hệ thống ở những bệnh nhân mắc bệnh rung nhĩ. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra sự thiếu nhất quán về thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc chống đông. Việc sử dụng muộn có thể làm tăng nguy cơ bị đột quỵ cục bộ; mặc khác, việc sử dụng quá sớm lại làm tăng nguy cơ xuất huyết. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh hiệu quả và tính an toàn về thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc chống đông.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 24 tháng 7 năm 2023
|
|
Vào tháng 9 năm 2022, ca nhiễm virus monkeypox đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam. Trên toàn thế giới, số lượng ca đã vượt 100,000, vì thế vaccine phòng bệnh cần được nghiên cứu. Vào năm 2019, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ đã phê chuẩn việc sử dụng vaccine JYNNEOS. Vì thế Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ đã tài trợ một nghiên cứu điều tra sự hiệu quả của vaccine trong việc ngăn ngừa nhiễm monkeypox.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 19 tháng 7 năm 2023
|
|
Hiện nay, liệu pháp sốc điện co giật (ECT) đã trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho đa số các chứng rối loạn trầm cảm nghiêm trọng. Tuy hiệu quả của phương pháp đã được chứng minh, việc áp dụng ECT vẫn gặp nhiều hạn chế do các yếu tố như sự kỳ thị đến từ xã hội, cần sử dụng thuốc gây mê và mang nguy cơ cao gây tổn hại đến nhận thức. Trong những thập kỷ gần đây, ketamine cũng đã được để điều trị trầm cảm cho bệnh nhân không có triệu chứng rối loạn tâm thần. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có sự đối chứng rõ ràng giữa 2 phương pháp điều trị; do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh hiệu quả trong việc điều trị chứng trầm cảm nghiêm trọng (không kèm triệu chứng rối loạn tâm thần) giữa ECT và ketamine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 17 tháng 7 năm 2023
|
|
Trong những thập kỷ qua, tỷ lệ tụ máu dưới màng cứng mạn tính ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia phát triển. Điều này có thể được giải thích là do sự già hóa của dân số và việc sử dụng thuốc chống đông máu để điều trị các bệnh tim mạch. Cần mở hộp sọ lỗ khoan để dẫn lưu khối máu tụ; đây là một thủ tục hiệu quả nhưng có nguy cơ tử vong cao hơn. Người ta đưa ra giả thuyết rằng phản ứng viêm khiến tình trạng của khối máu đông trầm trọng hơn bằng cách tích tụ chất lỏng và tăng tỷ lệ đông máu. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra khả năng sử dụng dexamethasone trong điều trị tụ máu dưới màng cứng mãn tính.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 7 năm 2023
|
|
Tiểu đường thai kỳ là một trong những biến chứng sản khoa thường gặp và có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của bà mẹ và thai nhi. Rủi ro tiền sản giật ở người mẹ bị gia tăng và dẫn đến các biến chứng trong lúc sinh. Thêm vào đó, kích thước của thai nhi có thể lớn hơn bình thường và rủi ro chấn thương hoặc trật khớp vai có thể gia tăng. Hiện tại, các bà mẹ được khuyến cáo kiểm tra và điều trị tiểu đường thai kỳ vào tuần thai thứ 24. Biện pháp này đã có tính hiệu quả cao trong việc giúp khắc phục các rủi ro trong lúc mang thai. Vì thế, một nghiên cứu được tài trợ bởi chính phủ Úc và New Zealand đang được thực hiện để điều tra liệu biện pháp ngăn ngừa có thể áp dụng sớm hơn, vào tuần thứ 20, để gia tăng lợi ích lâm sàng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 10 tháng 7 năm 2023
|
|
Liệu trình hóa trị kết hợp giữa carboplatin và paclitaxel là phương pháp điều trị đầu tiên cho bệnh ung thư nội mạc tử cung, tuy nhiên, kết quả lâu dài của chúng tương đối kém. Dostarlimab là một kháng thể đơn dòng có thể bám vào và trung hòa các khối u nội mạc có nhiều các thụ thể PD-1. Để am hiểu sâu hơn về phương pháp điều trị ung thư, công ty dược phẩm GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá độ hiệu quả và an toàn của dostarlimab như một liệu pháp miễn dịch chống lại bệnh ung thư nội mạc tử cung.
|
|
Được tóm tắt và phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân
Được biên tập bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM. |
Đăng vào ngày 5 tháng 7 năm 2023
|
|
Trong số sáu chủng (A, B, C, W, X, Y) của vi khuẩn viêm màng não mô cầu, chủng A là tác nhân chính trong đa số các ca nhiễm. Tuy nhiên, nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng của vaccine MenACWY-D, chủng A đã được kiểm soát hiệu quả trong cộng đồng. Gần đây, tỷ lệ nhiễm viêm màng não mô cầu đang tăng cao trở lại do sự xuất hiện của các biến chủng khác. Trong đó, đặc biệt nhất là biến chủng X vì loại chủng này chưa được bổ sung vào vaccine MenACWY-D. Do đó, một nghiên cứu được tiến hành để điều tra tính hiệu quả và an toàn của vaccine mới NmCV-5 (vaccine tiểu đơn vị liên hợp viêm màng não mô cầu năm chủng ACWYX).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 3 tháng 7 năm 2023
|
|
Nhiều tế bào miễn dịch sử dụng con đường JAK-STAT để gây ra phản ứng tiền viêm; do đó, việc ức chế các protein này có thể làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh Crohn. Upadacitinib có khả năng gây ức chế protein Jak. Hơn nữa, Upadacitinib đang được sử dụng để điều trị viêm da dị ứng và viêm khớp dạng thấp. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá độ hiệu quả của upadacitinib trong điều trị bệnh Crohn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 28 tháng 6 năm 2023
|
|
Tình trạng viêm nhiễm kết hợp với viêm phổi có thể dẫn đến suy giảm trao đổi khí và mức độ viêm nhiễm càng nặng cũng như diễn biến bệnh phức tạp sẽ gây ra nguy cơ tử vong cao. Thuốc Glucocorticoids (hydrocortisone) được biết đến như một loại thuốc phổ biến có tác dụng mạnh trong việc chống viêm. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác để chứng minh sự hiệu quả của thuốc chống viêm trong việc giảm tỉ lệ tử vong trong các trường hợp mắc bệnh viêm phổi trong cộng đồng. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm điều tra vấn đề được nêu trên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 26 tháng 6 năm 2023
|
|
Sự chuyển giao 25-hydroxyvitamin D (25[OH]D) từ mẹ sang thai nhi rất quan trọng cho sự phát triển xương ở trẻ sơ sinh. Do đó, khi nồng độ 25[OH]D ở người mẹ thấp, trẻ sẽ thiếu vitamin D và gặp vấn đề về xương. Do đó, một nghiên cứu đã xem xét những lợi ích của việc bổ sung vitamin D cho trẻ em có nồng độ 25[OH]D trong huyết thanh thấp.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 21 tháng 6 năm 2023
|
|
Albendazole là một loại thuốc chống sán phổ rộng với hiệu quả tương đối cao đối với Ascaris lumbricoides và giun móc. Tuy nhiên, albendazole lại không có nhiều hiệu quả đối với Trichuris trichiura. Các nghiên cứu in vitro gần đây đã cho thấy rằng emodepside có hoạt tính tối ưu khi chống lại các loại giun sán truyền qua đất. Do đó, Hội đồng Nghiên cứu Châu u đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá tác dụng của emodepside trong việc điều trị nhiễm Trichuris trichiura và giun móc.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 19 tháng 6 năm 2023
|
|
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh lý viêm khớp mạn tính với cơ chế tự miễn dịch; gây ra bởi phản ứng viêm không được kiểm soát chống lại các mô trong khớp. Do đó, viêm khớp dạng thấp có thể được kiểm soát bằng cách ức chế các tế bào tự miễn dịch. PD-1 là một thụ thể được biểu hiện bởi nhiều tế bào lympho; sự kích hoạt của nó sẽ gây ức chế lên sự kích hoạt của tế bào. Do đó, công ty dược phẩm Eli Lilly, đã tài trợ cho một nghiên cứu trong việc sử dụng peresolimab, một loại kháng thể có thể kích thích PD-1, để điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 14 tháng 6 năm 2023
|
|
Vi khuẩn Mycobacterium leprae là tác nhân chính dẫn đến bệnh phong ở người. Ngoài việc tích cực điều trị cho các ca bệnh, công tác phòng ngừa cũng góp phần ngăn chặn bệnh lây truyền. Trước đây, dapsone và acedapsone được sử dụng để phòng ngừa bệnh, nhưng hiệu quả đem lại khá thấp do thời gian điều trị kéo dài dẫn đến sự thiếu tuân thủ của bệnh nhân. Rifampin và rifapentine có hoạt tính diệt khuẩn mạnh với Mycobacterium leprae; do đó, một nghiên cứu đã điều tra hiệu quả của chúng như là phương pháp phòng ngừa cho bệnh phong.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 12 tháng 6 năm 2023
|
|
Các chất kiểm soát sinh sản tế bào như cabozantinib và nivolumab đang là các phương pháp điều trị hàng đầu cho khối u ác tính ở tế bào thận, tuy nhiên, tỷ lệ hiệu quả của những liệu pháp này không đạt mức tối ưu. Tyrosine kinase là một chất truyền tín hiệu chính cho nhiều quá trình có lợi cho khối u như sự tăng trưởng, tái tạo mạch máu mới, điều chỉnh miễn dịch và di căn. Do đó, đây là một mục tiêu quan trọng cho liệu pháp phòng ngừa sự xuất hiện của khối u. Cabozantinib là một chất ức chế tyrosine kinase, và một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá sự hiệu quả và an toàn của nó khi sử dụng để điều trị u ác tính tế bào thận.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 7 tháng 6 năm 2023
|
|
Kiểm soát dị ứng với đậu phộng ở bệnh nhi gặp rất nhiều khó khăn vì các trẻ ít có khả năng nhận dạng và tránh được chất gây dị ứng. Trong những trường hợp xấu, trẻ có thể bị sốc phản vệ và mất mạng. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu tiếp xúc với một liều nhỏ chất gây dị ứng đậu phộng có thể làm giảm độ mẫn cảm của trẻ bị dị ứng và giảm bớt tính nghiêm trọng của bệnh lý.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 5 tháng 6 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu lâm sàng trước đây đã phát hiện ra rằng việc kết hợp venetoclax và obinutuzumab đem lại hiệu quả trong việc ngăn cản sự phát triển của khối u của bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lympho mãn tính (CLL). Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn rất ít thông tin về hiệu quả của sự kết hợp này so với các phương pháp điều trị khác. Do đó, một nghiên cứu đối chứng ngẫu nhiên đã được tiến hành để so sánh kết quả sức khỏe của các bệnh nhân CLL được điều trị bằng kết hợp venetoclax-obinutuzumab với các phương pháp điều trị khác được khuyến nghị.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 31 tháng 5 năm 2023
|
|
Sau lần đầu tiên được chẩn đoán mắc bệnh ung thư đại trực tràng di căn, bệnh nhân thường sẽ được điều trị bằng nhiều loại hóa trị. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này vẫn không mang lại sự hiệu quả ở một số bệnh nhân; những trường hợp này được xem là ung thư kháng trị. Sự kết hợp giữa trifluridine và tipiracil đã được chứng minh là một công cụ hữu ích để điều trị ung thư đại trực tràng di căn. Bevacizumab, một chất ức chế VEGF, là một liệu pháp khác có lợi ích lâm sàng rõ ràng trong việc làm chậm quá trình tiến triển của bệnh. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của việc kết hợp bevacizumab với trifluridine và tipiracil trong điều trị ung thư đại trực tràng di căn kháng trị.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 29 tháng 5 năm 2023
|
|
Vaccine bacille Calmette-Guerin (BCG) đang được sử dụng phổ biến để ngăn ngừa bệnh lao phổi. Ngoài ra, vaccine còn có tiềm năng giảm nguy cơ nhiễm trùng đường hô hấp ở người lớn. Hiệu ứng ngoài mục tiêu này có thể được giải thích do các thay đổi mang tính di truyền ở tế bào miễn dịch, giúp chúng kích thích phản ứng viêm nhiễm và tăng tốc quá trình loại bỏ SARS-CoV-2. Nhằm tận dụng hiệu ứng điều chỉnh hệ miễn dịch này, một nghiên cứu do Quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ đã điều tra việc sử dụng vaccine BCG để ngăn ngừa COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 24 tháng 5 năm 2023
|
|
Với mục tiêu làm giảm viêm nhiễm liên tục do bệnh lý viêm xoang mãn tính mang lại, các bác sĩ thường kê các thuốc thông mũi gốc corticosteroid. Tuy nhiên, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chứng minh hiệu quả của những loại thuốc này đối với trẻ em. Ngoài ra, tác động của thuốc thông mũi gốc corticosteroid đối với hệ vi sinh ở mũi vẫn chưa được làm sáng tỏ. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học Mỹ đã điều tra tác động của thuốc thông mũi gốc corticosteroid đối với chất lượng cuộc sống của trẻ em mắc bệnh viêm xoang mạn tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 17 tháng 5 năm 2023
|
|
Sự phát triển quá mức của cơ và tế bào quanh động mạch phổi có thể làm hẹp đường kính và gia tăng huyết áp. Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện rằng yếu tố tăng trưởng biến đổi β (TGF-β) đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển này. Sotatercept là một protein kết hợp bào gồm phần liên kết của receptor ActRIIA có thể gắn kết với TGF-β. Do đó, công ty dược phẩm MSD đã tài trợ một nghiên cứu nhằm khám phá tác động của Sotatercept trong việc điều trị tăng huyết áp động mạch phổi.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 15 tháng 5 năm 2023
|
|
Nhiễm trùng do virus hô hấp hợp bào (RSV) ở người cao tuổi là bệnh lý đáng lo ngại vì có thể trở nên nguy kịch nếu họ có các bệnh khác. Hiện tại, chưa có bất kỳ vaccine nào được cấp phép sử dụng cho người lớn tuổi. Công ty dược phẩm Pfizer đã tài trợ một nghiên cứu nhằm khảo sát hiệu quả của vaccine prefusion F-protein-based của hai chủng virus hô hấp hợp bào (RSVpreF vaccine) trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng ở người cao tuổi.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 10 tháng 5 năm 2023
|
|
Nhiễm trùng do virus hô hấp hợp bào là tác nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi ở các quốc gia kém phát triển. Tiêm chủng cho phụ nữ mang thai có thể dẫn đến sự chuyển giao kháng thể bảo vệ qua tử cung. Việc chuyển giao kháng thể này đã được chứng minh có hiệu quả trong việc phòng ngừa bệnh như bệnh uốn ván, ho cảm cúm và SARS-CoV-2. Do đó, một nghiên cứu được tài trợ bởi Pfizer đã được tiến hành để khám phá khả năng tiêm chủng cho phụ nữ mang thai vaccine RSVpreF nhằm ngăn ngừa bệnh lý này ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 8 tháng 5 năm 2023
|
|
Bệnh vẩy nến đỏ toàn thân là một bệnh lý nghiêm trọng với 90% bề mặt cơ thể của bệnh nhân nổi ban đỏ và cảm giác ngứa. Corticosteroids dạng thoa thường để chữa trị bệnh vẩy nến đỏ toàn thân, tuy nhiên, việc áp dụng cho toàn cơ thể lại thiếu tính khả thi. Mặc khác, dupliumab là một loại kháng thể đơn dòng đóng vai trò trong việc kiểm soát khả năng gây viêm của cytokines IL-4 và IL-13. Một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Hiệp hội y tế Hoa Kỳ đang thử nghiệm khả năng chữa trị bệnh viêm da dị ứng toàn thân với dupliumab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 3 tháng 5 năm 2023
|
|
Xuất huyết sau sinh gây ra 27,1% các ca tử vong ở phụ nữ mang thai hàng năm. Quá trình tan máu đông sau khi lấy nhau thai tăng nguy cơ xuất huyết. Acid tranexamic có thể cải thiện hệ thống cầm máu tự nhiên bằng cách ngăn chặn quá trình phân giải cục máu đông. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành đánh giá hiệu quả của việc sử dụng acid tranexamic trong việc ngăn ngừa xuất huyết ở phụ nữ mang thai sau phẫu thuật mổ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 1 tháng 5 năm 2023
|
|
Statin được kích hoạt bởi các mô ngoại vi nên việc tận dụng statin liên quan đến nhiều tác dụng phụ đối với cơ vân (cơ vận động). Bempedoic acid được chuyển hóa trong gan; do đó, hoạt chất đem lại ít tác động tiêu cực hơn. Vì vậy, Esperion Therapeutics đã tài trợ một nghiên cứu nhằm điều tra hiệu quả của bempedoic acid trong việc kiểm soát tăng cholesterol máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 26 tháng 4 năm 2023
|
|
Những bệnh nhân HIV với hệ miễn dịch suy yếu có khả năng cao bị ảnh hưởng bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Trong số các bệnh nhiễm trùng này, viêm màng não cryptococcus là nguyên nhân gây tử vong liên quan đến HIV đứng thứ hai. Tỷ lệ tử vong cao có thể do hiệu quả thấp của fluconazole hoặc độc tính cao của amphotericin B deoxycholate khi sử dụng trong thời gian dài. Mặc khác, amphotericin B liposomal có tỷ lệ tác dụng phụ thấp nên có thể được sử dụng ở liều cao hơn. Ngoài ra, nó còn có khả năng xuyên qua hàng rào máu-não và thời gian bán phân rã dài hơn. Dựa trên những đặc điểm này, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của việc kết hợp amphotericin B liposomal với liệu pháp chống nấm trong việc điều trị viêm màng não cryptococcus.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 24 tháng 4 năm 2023
|
|
Aldosterone có khả năng tăng cường sự tái hấp thụ natri và giữ nước, do đó gián tiếp gia tăng nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp. Vì vậy, aldosterone synthase được coi là một mục tiêu dược học hiệu quả trong quản lý tình trạng này. CinCor Pharma đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của baxdrostat, một chất ức chế aldosterone synthase có tính chọn lọc cao, trong việc kiểm soát cao huyết áp.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 19 tháng 4 năm 2023
|
|
Viêm sụn sườn ( hội chứng Tietze) là hiện tượng căng tức và sưng viêm tại các khớp nối giữa sụn xương sườn với xương ức. Tuy nhiên, cơn đau kéo dài tại vùng sườn-sụn và vùng ức thường bị chuẩn đoán sai thành bệnh đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim. Các triệu chứng này lại thường được điều trị bằng thuốc giảm đau không kê toa. Một nhóm đã thực hiện một nghiên cứu với giả thuyết rằng corticosteroids có thể giúp quản lý được hội chứng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 17 tháng 4 năm 2023
|
|
Ung thư nguyên bào thần kinh là một trong những tác nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở bệnh nhi. Các khối u nguyên bào này sản xuất rất nhiều protein disaloganglioside GD2; do đó, phương án điều trị với kháng thể đơn bào đem lại nhiều kết quả khả quan. Hiện nay, tế bào lympho T với thụ thể kháng nguyên dạng khảm (chimeric antigen receptors T-cell - CAR-T-cells) là một phương pháp điều trị ung thư tân tiến: các tế bào lympho T được lập trình để sản xuất thụ thể bám vào loại kháng nguyên xác định và diệt trừ tế bào ung thư. Vì thế, Cục quản lý Dược phẩm Ý tài trợ cho một nghiên cứu về khả năng điều trị khối u nguyên bào thần kinh bằng GD2-CART01 CAR-T-cells.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 4 năm 2023
|
|
Các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) do vi khuẩn như chlamydia, giang mai và lậu có thể làm tăng khả năng nhiễm HIV. Vì vậy, cần phải ngăn ngừa và điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục này. Doxycycline là một loại kháng sinh giá rẻ, với ít tương tác giữa các loại thuốc khác. Do đó, Viện Y tế Quốc Gia (NIH) đã tiến hành một nghiên cứu để điều tra khả năng sử dụng doxycycline như một biện pháp dự phòng sau phơi nhiễm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 10 tháng 4 năm 2023
|
|
Hiện nay, viêm loét tá tràng có thể được chữa trị bằng phẫu thuật cắt bỏ trực tràng và nối túi hậu môn (RPC-IPAA). Tuy nhiên, di chứng sau phẫu thuật thường gặp là viêm túi lệ mãn tính. Vedolizumab là loại kháng thể đơn dòng có chức năng bám vào thụ thể α4β7 và giảm viêm ở đường tiêu hóa. Vì thế, một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty Takeda đã tiến hành thử nghiệm khả năng điều trị bệnh viêm túi lệ mãn tính của hoạt chất vedolizumab.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 5 tháng 4 năm 2023
|
|
Strontium ranelate có khả năng tăng cường quá trình tái tạo xương và ức chế quá trình tái hấp thu của các nguyên bào xương. Vì vậy, hoạt chất này được sử dụng để kiểm soát tình trạng loãng xương ở người cao tuổi. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism đã đánh giá hiệu quả của strontium ranelate trong việc ngăn ngừa gãy xương ở bệnh nhân loãng xương.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 3 tháng 4 năm 2023
|
|
Nhiễm khuẩn trong khi sinh là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở sản phụ trên toàn thế giới; do đó, kháng sinh dự phòng thường sẽ được sử dụng. Trong các ca mổ lấy thai (sinh mổ), quá trình truyền tĩnh mạch azithromycin được tiến hành ngay sau khi bắt đầu chuyển dạ. Do các lợi ích đem lại, cách điều trị này đã được khuyến nghị bởi Hội đồng sản phụ khoa Hoa Kỳ. Mặc dù vậy, những hiệu quả đem lại của phương pháp này đối với sinh thường vẫn chưa rõ. Một nghiên cứu đăng trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá ảnh hưởng của azithromycin chu sinh đối với sức khỏe của người mẹ và trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 31 tháng 3 năm 2023
|
|
Tirzepatide đã được duyệt bởi Cục Thực phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) trong việc điều trị bệnh tiểu đường loại 2. Hoạt chất mô phỏng tác dụng hướng insulin của các polypeptide được cơ thể sản xuất dùng để ức chế dạ dày. Sụt giảm cân nặng là một trong những tác dụng phụ khi sử dụng thuốc này; vì thế, công ty Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu điều tra về phương án sử dụng tizepatide trong điều trị bệnh béo phì.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 29 tháng 3 năm 2023
|
|
Bisphosphonate, như zoledronate, được sử dụng rộng rãi để phòng ngừa gãy xương ở bệnh nhân loãng xương bằng cách làm gián đoạn quá trình tái hấp thụ của các nguyên bào xương. Vì vậy, bisphosphonate có khả năng làm chậm quá trình thoái hóa xương ở bệnh nhân loãng xương. Hội đồng Nghiên cứu Sức khỏe của New Zealand tài trợ cho một nghiên cứu (thuốc do công ty Novartis cung cấp), để quyết định liều lượng zoledronate hợp lý để ngăn ngừa gãy xương ở bệnh nhân loãng xương.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2023
|
|
Với mục tiêu ngăn chặn sự lây nhiễm của SARS-CoV-2, tiêm ngừa là cách phòng chống hiệu quả nhất. Tuy nhiên, một vài cá thể không thể tiêm phòng vaccine vì gặp vấn đề với khả năng miễn dịch. Vì vậy, công ty dược AstraZeneca đã tài trợ một nghiên cứu để điều tra độ hiệu quả của việc kết hợp kháng thể đơn dòng tixagavimab và cilgavimab trong việc ngăn ngừa COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 24 tháng 3 năm 2023
|
|
Viêm da dị ứng được điều trị bằng corticosteroid thoa ngoài da, nhưng độ hiệu quả của thuốc không đồng điều. Mức độ nghiêm trọng của tình trạng viêm có quan hệ nghịch với mức độ sản xuất cytokine Interleukin-13 gây viêm. Lebrikizumab là một kháng thể có thể liên kết và vô hiệu hóa Interleukin-13. Vì vậy, công ty dược Eli Lilly tài trợ nghiên cứu điều tra về độ hiệu quả khi sử dụng lebrikizumab để điều trị viêm da dị ứng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 22 tháng 3 năm 2023
|
|
Spironolactone, một loại steroid có hiệu ứng lợi tiểu, đã được sử dụng rộng rãi để điều trị bệnh cao huyết áp. Bởi vì sự tương đồng trong cấu trúc với các hormone khác như aldosterone và estrogen, nhiều người tin rằng loại thuốc này có thể điều trị mụn trứng cá. Vì thế, viện nghiên cứu chăm sóc sức khỏe Anh Quốc đã tiến hành một nghiên cứu về sự hiệu quả của spironolactone trong việc điều trị mụn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A. |
Đăng vào ngày 20 tháng 3 năm 2023
|
|
Nhiễm Trichomoniasis là một căn bệnh lây qua đường tình dục do ký sinh trùng gây ra, bệnh có thể chữa bằng Mentronidazole. Tuy nhiên, vẫn chưa có sự thống nhất về liều lượng thích hợp nhất. Vì vậy, Viện Y tế Quốc gia đã tài trợ cho một nghiên cứu để so sánh độ hiệu quả giữa Metronidazole liều cao trong ngày và liều Metronidazole trong 7 ngày trong điều trị Trichomoniasis.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 17 tháng 3 năm 2023
|
|
Mặc dù không di căn, các khối u xơ lành tính (desmoid tumors) vẫn gây ra đau đớn và ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan bị chèn ép. Các khối u này tạo lượng protein Notch-1 cao bất thường và khiến cho bệnh tình nghiêm trọng hơn. Nirogacestat, một chất ức chế γ-secretase, có thể gián đoạn việc truyền tín hiệu của protein Notch. Vì vậy, công ty dược phẩm trị liệu SpringWork đã tiến hành nghiên cứu khảo sát tính khả thi của việc sử dụng Nirogacestat trong điều trị khối u xơ lành tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 13 tháng 3 năm 2023
|
|
Hiện nay, lao phổi thường được điều trị với Rifampin trong vòng 6 tháng. Liệu trình có độ hiệu quả cao nếu được áp dụng đúng cách, tuy nhiên việc điều trị trong thời gian dài giảm độ đặc hiệu ở những quốc gia kém phát triển. Vì thế, hội đồng nghiên cứu y học quốc gia của Singapore đã tiến hành 1 cuộc khảo sát về độ hiệu quả của phương án điều trị ngắn hơn cho bệnh nhân lao phổi.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 10 tháng 3 năm 2023
|
|
Để giảm rủi ro cơ thể từ chối nội tạng được ghép, bệnh nhân được chữa trị với thuốc làm giảm hệ miễn dịch. Nhưng, khả năng chống tế bào ung thư bị suy giảm và gia tăng rủi ro ung thư da. Ở trong tế bào, nicotinamide (vitamin B3) giúp tái cấu tạo DNA sau khi tổn thương gây ra bởi tia cực tím. Vì thế hội đồng nghiên cứu y học của Úc đã tài trợ một nghiên cứu khảo sát khả năng dùng nicotinamide để ngăn ngừa ung thư da ở bệnh nhân được ghép nội tạng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 8 tháng 3 năm 2023
|
|
Thuốc lợi tiểu nhóm thiazide như hydrochlorothiazide thường được kê toa để ngăn ngừa hình thành sỏi thận. Nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu chất lượng cao khảo sát sự hiệu quả của thuốc và liều phù hợp. Vì thế học viện khoa học Thuỵ Sĩ đã tài trợ một nghiên cứu đánh giá kết quả lâm sàng của nhiều liều hydrochlorothiazide trong việc ngăn ngừa sỏi thận.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2023
|
|
Pembrolizumab là một loại kháng thể có khả năng bám vào PD-1 và có thể dẫn đến sự tiêu hủy của khối u. Vì thế thuốc được sử dụng sau phẫu thuật để ức chế tế bào ung thư. Bởi vì PD-1 vô hiệu hóa tế bào T chống khối u, sử dụng pembrolizumab trước phẫu thuật có khả năng gia tăng lợi ích. Một nghiên cứu đã so sánh việc sử dụng pembrolizumab trước và sau phẫu thuật với việc chỉ dùng pembrolizumab sau phẫu thuật.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 3 tháng 3 năm 2023
|
|
Sốt phát ban bụi rậm là một loại bệnh truyền nhiễm lan truyền bởi động vật. Vi khuẩn Orientia tsutsugamushi là nguyên nhân lây bệnh và chúng được truyền qua một loại rận đã được tìm thấy ở Đông Nam Á. Trên toàn thế giới, mỗi năm có khoảng 1 triệu ca bệnh và 150,000 ngàn ca tử vong. Nhưng hiện tại vẫn chưa có sự thống nhất về liệu trình kháng sinh phù hợp. Vì thế quỹ nghiên cứu Wellcome Trust đã tài trợ một dự án khảo sát sự hiệu quả của doxycycline, azithromycin, hoặc cả hai trong việc điều trị sốt phát ban bụi rậm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 1 tháng 3 năm 2023
|
|
Thuốc rucaparib có khả năng chặn sự phát triển của khối u bằng cách ức chế enzyme poly(ADP-ribose) polymerase (PARP). Loại thuốc ức chế PARP ngăn cản khả năng sửa chữa DNA mà tế bào của khối u sử dụng để tồn tại. Vì thế, một nghiên cứu đã khảo sát sự hiệu quả của rucaparib trong việc điều trị ung thư tuyến tiền liệt với đột biến BRCA và ATM.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 27 tháng 2 năm 2023
|
|
Gần đây, phẫu thuật kích thích não sâu đã được áp dụng để chữa trị bệnh Parkinson’s. Nhưng phẫu thuật phẫu thuật cần cắt vào hộp sọ để tiếp xúc với não và thiết bị kích thích não cần được bảo trì thường xuyên. Vì thế, một liệu trình điều trị khác với ít tính xâm lấn và tiện lợi hơn có thể giúp ích hơn cho bệnh nhân. Công ty thiết bị y tế Insightec đã thực hiện một cuộc nghiên cứu khảo sát sử dụng sóng siêu âm để cắt bỏ vùng globus pallidus của não trong việc điều trị Parkinson’s.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 24 tháng 2 năm 2023
|
|
Vào năm 2013, bộ y tế Hoa Kỳ khuyến cáo sử dụng vaccine pneumococcal conjugate vaccine (PCV13) để ngăn ngừa bệnh ở trẻ em. Sau 3 năm sử dụng, số lượng các ca nhiễm pneumococcal giảm đáng kể. Vì thế, PCV13 được khuyến cáo sử dụng ở người lớn tuổi vào năm 2014. Kết quả theo dõi của tác dụng của PCV13 đã được công bố ở tạp chí y học Journal of the American Medical Association.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 22 tháng 2 năm 2023
|
|
Ở đa phần các ca, virus SARS-CoV-2 gây ra bệnh tương đối nhẹ ở trẻ em dưới 5 tuổi. Nhưng, COVID-19 vẫn có thể dẫn đến các triệu chứng trầm trọng và tử vong. Hiện tại, vẫn chưa có có nghiên cứu về sự an toàn và hiệu quả của vaccine BNT162b2 ở trẻ em. Vi thế công ty Pfizer và BioNTech đã thực hiện một dự án nghiên cứu lâm sàng để thử nghiệm vaccine của công ty lên các trẻ dưới 5 tuổi
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 20 tháng 2 năm 2023
|
|
Hàng năm, respiratory syncytial virus (RSV) gây ra nhiều ca bệnh nặng và tử vong ở người lớn tuổi. Hiện tại vẫn chưa có loại vaccine nào được bán trên thị trường. Công ty dược GlaxoSmithKline đã nghiên cứu ra một loại vaccine có thể bám vào glycoprotein F của virus RSV. Vì thế vaccine có khả năng ngăn cản quá trình xâm nhập tế bào của RSV, nên nghiên cứu có giải thuyết rằng vaccine chống glycoprotein F với chất giúp ít AS01E (RSVPreF3 OA) có thể ngăn ngừa nhiễm RSV.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 17 tháng 2 năm 2023
|
|
Khi tế bào hệ hô hấp trên của bệnh nhân bị xâm nhập bởi virus SARS-CoV-2, interferon lambda được sản xuất để ngăn cản sự sinh sản của virus. Loại cytokine này đã được sử dụng để điều trị virus viêm gan B và C. Vì thế, một nhóm nghiên cứu đã điều tra sự hiệu quả của interferon lambda trong việc điều trị nhiễm virus SARS-CoV-2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 17 tháng 2 năm 2023
|
|
Vi khuẩn Neisseria meningitidis là nguyên nhân gây ra viêm màng não phổ biến nhất ở trẻ em. Vaccine chứa 4 thành phần (4CMenB) được công ty GlaxoSmithKline bán toàn thế giới với nhãn tên Bexsero. Một nghiên cứu được đăng lên tạp chí y học New England Journal of Medicine đã công bố sự hiệu quả của vaccine 4CMenB trong việc phòng ngừa viêm màng não ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 15 tháng 2 năm 2023
|
|
Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) khuyến cáo sử dụng kết hợp thuốc kháng virus Nirmaterlvir và Ritonavir để chữa trị COVID-19 dạng nhẹ tới vừa. Nhưng thuốc không phổ biến toàn thế giới và thuốc không được sử dụng nhiều do phản ứng với các loại thuốc khác. Remdesivir là một loại thuốc kháng virus khác được WHO khuyến cáo, nhưng thuốc chỉ được sử dụng trong bệnh viện do thuốc cần được tiêm vào tĩnh mạch. VV116 là một dược phẩm tương đương với Remdesivir nhưng có thể sử dụng qua dạng viên uống. Một nghiên cứu được tổ chức bởi công ty dược phẩm Vigonvita Life Sciences đã so sánh tính hiệu quả và an toàn giữa VV116 và Nirmaterlvir và Ritonavir.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 13 tháng 2 năm 2023
|
|
Ibrutinib là loại thuốc ức chế protein BKT thế hệ 1 đang được sử dụng để điều trị bệnh ung thư bạch cầu kinh dòng lympho mạn tính (CLL) và small lymphocytic lymphoma (SLL). Nhưng thuốc có phản ứng phụ rất cao. Zanubrutinib là thuốc ức chế BKT thế hệ 2 với khả năng bám cụ thể vào BKT tốt hơn. Một nghiên cứu gần đây đã khảo sát liệu tính chất này có gia tăng sự hiệu quả và tính an toàn của Zanubrutinib.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 10 tháng 2 năm 2023
|
|
Protein KRAS cực kỳ quan trọng trong các đường truyền tính hiệu liên quan đến sự phát triển của tế bào. Đột biến ở protein này ảnh hưởng đến vòng sự sinh trưởng của tế bào và gia tăng khả năng ung thư. Đột biến thay đổi amino acid thứ 12 từ glycine thành cysteine (G12C) ở protein KRAS gây ra khoảng 2% các ca ung thư tuyến tụy. Vì độc tố cao của các loại thuốc chữa trị hiện tại, một liệu trình điều trị mới rất cần thiết. Sotorasib có khả năng bám vào và ức chế protein KRAS đột biến G12C, và công ty dược Amgen đã công bố kết quả nghiên cứu về sự hiệu quả của thuốc.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 8 tháng 2 năm 2023
|
|
Bệnh Alzheimer bị gây ra do sự tích tụ của protein amyloid beta trong não. Các mảng amyloid ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của tế bào não và dẫn đến suy giảm trí nhớ. Lecanemab là một kháng thể có khả năng bám vào và đào thải protein amyloid beta. Một nghiên cứu gần đây đã tham khảo khả năng sử dụng Lecanemab để ngăn ngừa sự tiến triển bệnh Alzheimer.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 6 tháng 2 năm 2023
|
|
Với số lượng người bị nhiễm SARS-CoV-2 gia tăng và virus đột biến trở nên ít chết người, bệnh COVID-19 biến từ một đại dịch thành một bệnh phổ biến theo mùa như cúm Influenza. Mặc dù bệnh đã được kiểm soát, việc tiêm ngừa vẫn rất quan trọng để giảm nguy cơ đột biến tạo thành chủng mới và giúp bảo vệ các bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh nặng như người lớn tuổi. Hai công ty dược, Pfizer và BioNTech - nhà sản xuất vaccine BNT162b2 - đã công bố kết quả của nghiên cứu so sánh tính hiệu quả của loại vaccine hai chủng và công thức vaccine hiện tại của Pfizer.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 3 tháng 2 năm 2023
|
|
Đột biến ở protein KRAS dẫn đến hơn phân nửa các ca ung thư ruột già. Đột biến thay đổi glycine ở vị trí amino acid số 12 thành cysteine (G12C) ở protein KRAS dẫn đến tình trạng kích hoạt có thể gia tăng nguy cơ ung thư. Dạng đột biến ở KRAS này gây ra 3% tới 4% các ca ung thư ruột già. Adagrasib có khả năng bám vào và ức chế KRAS G12C đột biến và các đường truyền tín hiệu có khả năng gia tăng rủi ro ung thư. Vì thế, Adagrasib có thể được sử dụng để điều trị ung thư, nhưng KRAS G12C vẫn có thể được kích hoạt bởi tính hiệu từ epidermal growth factor receptor (EGFR). Nghiên cứu KRYSTAL-1 khảo sát việc kết hợp Adagrasib với Cetuximab, một kháng thể có khả năng ức chế EGFR.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 1 tháng 2 năm 2023
|
|
Các bệnh nhân bị chấn thương xương khớp có nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch cao. Heparin được khuyến cáo để phòng chống đông máu ở các bệnh nhân bị nứt xương. Một số nghiên cứu gần đây tìm thấy rằng aspirin có khả năng làm tan huyết khối tốt với ít phản ứng phụ ở các bệnh nhân phẫu thuật xương khớp. Nhưng hiện tại vẫn đang thiếu nghiên cứu so sánh tính hiệu quả của aspirin với heparin. Tổ chức METRC đã công bố kết quả nghiên cứu so sánh 2 loại thuốc chống đông máu trên.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 27 tháng 1 năm 2023
|
|
Một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đã chứng minh rằng linaclotide giúp giảm đau bụng ở các bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích kèm táo bón. Hoạt chất tương tác với guanylate cyclase-C trên tế bào thành ruột và tăng lượng chất lỏng tiết ra. Công thức giải phóng kéo dài loại 2 của linaclotide (MD-7246) được thiết kế với khả năng ảnh hưởng lên khu vực xa của ruột già. Một nghiên cứu gần đây đã khảo sát sự hiệu quả của thuốc trong việc điều trị hội chứng ruột kích thích với tiêu chảy.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 25 tháng 1 năm 2023
|
|
Tofacitinib là một dược phẩm có khả năng ức chế JAK và ngăn cản sự kích hoạt của protein STAT cần thiết cho sự sản xuất cytokine gây viêm. Nghiên cứu lâm sàng OCTAVE đã chứng minh sự hiệu quả của thuốc và giúp cho việc thuốc được sử dụng để điều trị viêm loét ruột già. Nhưng khoảng thời gian theo dõi của nghiên cứu quá ngắn và thiếu tính khái quát. Vì thế một nghiên cứu gần đây đã được thực hiện để khảo sát tính hiệu quả và an toàn lâu dài của tofacitinib.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 23 tháng 1 năm 2023
|
|
Hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS) là nguyên nhân tử vong phổ biến nhất của bệnh COVID-19. Ở các bệnh nhân bị ARDS, mật độ cytokine gây viêm IL-33 gia tăng song song với việc giảm lượng cytokine mang tính chất bảo vệ, IL-22. Vì thế, công ty dược phẩm Genetech đã thực hiện một nghiên cứu để khảo sát việc sử dụng Astegolimab, một kháng thể chống IL-33, và Efmarodocokin alfa, một dược phẩm mang tính chất của IL-22, để chữa trị COVID-19 dạng nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 21 tháng 12 năm 2022
|
|
Từ lúc đại dịch mới bắt đầu, rất nhiều nhóm nghiên cứu đã nỗ lực phát triển các loại thuốc để chữa trị virus SARS-CoV-2. Remdesivir, được chế tạo để chữa trị Ebola, và molnupiravir, được thiết kế cho cúm, đã được sử dụng chữa trị COVID-19. Vì thế, một nghiên cứu gần đây đã nghiên cứu khả năng sử dụng các loại thuốc chống virus HIV để điều trị COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 19 tháng 12 năm 2022
|
|
Benzodiazepine thường được kê toa để điều trị hội chứng rối loạn lo âu và trầm cảm ở phụ nữ mang thai. Nhưng chúng ta vẫn chưa hiểu rõ về sự ảnh hưởng của thuốc lên sự phát triển tâm thần của thai nhi. Các nghiên cứu trước đã báo cáo rằng thuốc có thể tìm thấy trong nước ối và có thể ảnh hưởng lên sức khỏe thai nhi. Vì thế, một nghiên cứu thuần tập lớn hơn đã được thực hiện để hiểu thêm về rủi ro của benzodiazepine lên thần kinh của trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 16 tháng 12 năm 2022
|
|
Mức độ trầm trọng của việc nhiễm SARS-CoV-2 có mối liên quan mật thiết với sự kích hoạt của chuỗi truyền tín hiệu JAK/STAT. Vì thế, các dược phẩm có khả năng ức chế chuỗi tín hiệu này có thể dùng để hạn chế mức độ tổn thương gây ra bởi hệ miễn dịch. Ruxolitinib, với khả năng bám vào và làm vô hiệu hoá protein JAK, đang được nghiên cứu với khả năng cải thiện sức khỏe cho các bệnh nhân đang nhập viện do COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 14 tháng 12 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu về chất chuyển hóa trước đã cho thấy butyrate cần thiết cho một hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh. Thiếu loại acid béo chuỗi ngắn này có thể giảm số lượng của một số loài vi khuẩn có lợi; điều này dẫn tới sự rối loạn chuyển hóa chất và gia tăng cân nặng. Một nghiên cứu lâm sàng gần đây đã thử nghiệm sự hiệu quả của việc bổ sung butyrate trong việc chữa trị béo phì ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 12 năm 2022
|
|
Hội chứng suy hô hấp cấp tính ở các bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 có tính chất viêm được kích hoạt bởi cytokine interleukin-6. Pacritinib, một dược phẩm có khả năng ức chế đường truyền JAK2/IRAK1 để giảm lượng IL-6, đã được cho phép bởi Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ để điều trị bệnh xơ tủy tiên phát (myelofibrosis). Một nghiên cứu đã khảo sát khả năng sử dụng pacritinib để điều trị COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 9 tháng 12 năm 2022
|
|
Verapamil là một loại thuốc ngăn cản kênh trao đổi calcium thường được dùng để điều trị các bệnh tim mạch như rối loạn nhịp tim, cao huyết áp và đau thắt lòng ngực. Thuốc còn có khả năng ức chế sự sản xuất protein TXNIP, ngăn cản sự tích chử trong tuyến tụy và làm giảm áp lực oxi hóa làm tổn thương tế bào beta. Một nghiên cứu gần đây đã điều tra khả năng dùng verapamil để điều trị bệnh tiểu đường loại 2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 7 tháng 12 năm 2022
|
|
Metformin được khuyến cáo sử dụng để điều trị tiểu đường bởi đa phần các phác đồ, bao gồm phác đồ của tổ chức y tế thế giới (WHO). Tại Hoa Kỳ, cục quản lý thực phẩm và dược phẩm khuyến cáo sử dụng empagliflozin, một thuốc ức chế thụ thể vận chuyển đường và natri số 2, sodium-glucose cotransporter 2 inhibitor (SGLT2i), vì lợi ích của thuốc lên hệ tim mạch. Một nghiên cứu được xuất bản gần đây đã so sánh lợi ích sức khỏe giữa metformin và empagliflozin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 5 tháng 12 năm 2022
|
|
Thuốc điều trị tiểu đường trong nhóm ức chế kênh dẫn sodium-glucose, sodium-glucose cotransporter-2 inhibitor (SGLT2i), ngăn cản quá trình tái hấp thu glucose; dẫn tới giảm calorie và giảm cân nặng. Nhưng tốc độ giảm cân chậm hơn dự kiến và có thể bị tăng lên lại, bởi vì người dùng thuốc tăng lượng thức ăn tiêu thụ. Thuốc cản thụ thể glucagon-like peptide 1, glucagon-like peptide 1 receptor agonist (GLP-1RA), có khả năng ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương và giảm độ thèm ăn. Một nghiên cứu gần đây đã khảo sát nếu dùng song song hai loại thuốc có thể dẫn đến giảm cân lâu dài.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 2 tháng 12 năm 2022
|
|
Đối với các phụ nữ mang thai đang phải sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid, họ phải được sử dụng thuốc opioid agonist đồng thời. Điều này giúp cải thiện sử dùng thuốc dưỡng thai và giảm rủi ro sinh non, quá liều, và tử vong. Methadone và buprenorphine là 2 thuốc opioid agonist thường được dùng; một nghiên cứu gần đây đã so sánh sự ảnh hưởng của 2 thuốc lên sức khỏe của thai nhi và mẹ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 30 tháng 11 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu trước đã báo cáo rằng lượng lipoprotein(a) - LP(a) - cao dẫn đến các bệnh như xơ vữa động mạch và hẹp van động mạch. Nhưng hiện tại vẫn chưa có phương pháp chữa trị nào được cho phép sử dụng. Nồng độ LP(a) phụ thuộc vào việc giải trình gene LPA, vì thế Olpasiran, một RNA có khả năng kìm hãm quá trình phiên mã (transcription) gene LPA, có thể được sử dụng để chữa trị. Một nghiên cứu gần đây đã công bố kết quả về việc điều tra tính hiệu quả của Olpasiran trong việc giảm lượng LP(a) trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 28 tháng 11 năm 2022
|
|
Bepirovirsen là một hoạt chất chống virus được tạo ra bởi công ty dược GlaxoSmithKline. Dược phẩm này đang được nghiên cứu cho việc điều trị viêm gan siêu vi B. Bởi vì Bepirovirsen là thuốc nhóm antisense oligonucleotide, nó có thể bám vào RNA của virus Hepatits B và ức chế việc nhân bản của virus. Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2a đã báo cáo rằng liệu trình điều trị kéo dài 4 tuần giúp giảm lượng kháng nguyên của virus hepatitis B (HBsAg) trong cơ thể. Nhóm nghiên cứu của nghiên cứu đó vừa công bố kết quả từ một cuộc thử nghiệm khác với thời gian theo dõi dài hơn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 25 tháng 11 năm 2022
|
|
Lượng triglyceride trong máu cao gia tăng nguy cơ các biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Nhưng, chúng ta vẫn chưa rõ nếu việc giảm nồng độ triglyceride có thể cải thiện sức khỏe tim mạch của bệnh nhân. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học New England Journal of Medicine báo cáo về sự ảnh hưởng của việc giảm lượng triglyceride trong máu lên rủi ro của các biến chứng tim mạch.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 21 tháng 11 năm 2022
|
|
Kiểm soát lượng virus rất quan trọng để giảm việc truyền nhiễm từ mẹ sang con ở các phụ nữ mang thai đang nhiễm HIV. Vì thế, raltegravir được sử dụng vì độc tố thấp. Các nghiên cứu trước đã báo cáo rằng việc sử dụng thuốc ở người lớn không mang thai dẫn tới tăng cân. Đối với phụ nữ mang thai, việc tăng cân đột ngột gia tăng rủi ro tiểu đường, cao huyết áp và giữ cân sau khi sinh. Việc tăng cân còn có thể gia tăng kích thước của thai nhi dẫn tới béo phì và gia tăng khả năng mổ lấy thai. Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo về rủi ro gia tăng cân nặng ở các phụ nữ mang thai đang sử dụng raltegravir để điều trị HIV.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 21 tháng 11 năm 2022
|
|
Bởi vì dư luận đang tranh cãi về dịch COVID-19 và việc tiêm chủng, công chúng rất là quan ngại về các phản ứng tiêu cực của vaccine. Đồng thời đó, số lượng các ca nhiễm herpes zoster được báo cáo cũng gia tăng. Nhưng vẫn chưa rõ nếu việc tiêm chủng có thật sự gia tăng rủi ro truyền nhiễm, hay là tỷ lệ phát hiện cao do tình trạng cảnh giác cao. Một nghiên cứu gần đây đã phân tích mối quan hệ giữa vaccine COVID-19 và nhiễm virus Herpes Zoster.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 18 tháng 11 năm 2022
|
|
Trong quá trình thụ tinh nhân tạo, in vitro fertilization-embryo transfer (IVF-ET), trứng phải được phân lập từ người mẹ và thụ tinh trong ống nghiệm trước khi được cho vào tử cung. Vì thế, bào thai có khả năng bị nhiễm virus viêm gan B (HBV) từ các bà mẹ đang bị viêm gan siêu vi B mãn tính (CHB). Một nghiên cứu được xuất bản gần đây báo cáo về rủi ro truyền bệnh từ mẹ sang con trong các bà mẹ mang thai nhờ quá trình IVF-ET
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 16 tháng 11 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu trước đã tìm thấy rủi ro nhiễm đường hô hấp cấp (SARI) như COVID-19 cao hơn ở các bệnh nhân mắc các bệnh tâm thần phân liệt và trầm cảm. Thêm vào đó các loại thuốc điều trị các bệnh trên có thể gia tăng nguy cơ viêm nhiễm. Vì SARS-CoV-2 đang trở nên phổ biến hơn, một nghiên cứu đã phân tích rủi ro ở các bệnh nhân bị vấn đề về tâm thần kinh học.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 14 tháng 11 năm 2022
|
|
Amino acid có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển thần kinh, và các trẻ được khuyến cáo sử dụng từ 3 tới 4 g mỗi ngày. Bởi vì não của các trẻ sinh non kém phát triển hơn bình thường, các bé có thể cần phải sử dụng liều cao hơn. Các nghiên cứu quan sát trước đã tìm thấy lượng amino acids được bổ sung có tính sự liên hệ tỷ lệ thuận với mức độ phát triển thần kinh, nhưng chúng ta vẫn chưa biết liều lượng phù hợp cho các trẻ sinh thiếu tháng. Một nghiên cứu được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu ProVIDe báo cáo về sự hiệu quả của bổ sung amino acids trong việc ngăn ngừa thiểu năng thần kinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 11 tháng 11 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy rằng psilocybin có tính năng chống trầm cảm khi được sử dụng trong việc điều trị ung thư. Hoạt chất có thể được chiết xuất từ nhiều loại nấm, và khi dùng với hình thức giải trí có thể dẫn tới cảm giác phấn chấn và ảo giác. Vì khả năng tạo sự khoa khoái, psilocybin có thể được sử dụng để điều trị bệnh trầm cảm. Một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 đã báo cáo về kết quả của việc sử dụng 1 liều psilocybin trong việc điều trị trầm cảm ở các bệnh nhân không phản ứng với các loại thuốc khác.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 9 tháng 11 năm 2022
|
|
Lượng magnesium và potassium thấp trong cơ thể có thể gia tăng lượng calcium và kéo dài thế động tác (action potential); điều này dẫn tới sự kích hoạt afterdepolarization quá sớm. Các nghiên cứu trước báo cáo rằng điều này có thể dẫn tới tình trạng rung nhĩ (AF). Vì thế việc bổ sung magnesium và potassium có thể giải quyết sự mất cân bằng điện giải và ngăn ngừa AF. Nhưng hiện tại không có khuyến cáo về việc sử dụng phương pháp điều trị này. Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo về việc điều trị rung nhĩ và cuồng động tâm nhĩ bằng potassium và magnesium.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 7 tháng 11 năm 2022
|
|
Cấu trúc xương được bảo quản bằng 2 quá trình có tính chất ngược nhau: tái tạo và hấp thu. Mất cân bằng ở 2 quá trình này dẫn tới tình hình loãng xương. Vì thế, các dược phẩm có khả năng ức chế quá trình tái hấp thu khoáng xương của hủy cốt bào (osteoclast) có thể được làm chậm quá trình loãng xương. Một nghiên cứu gần đây báo cáo rằng kisspeptin có thể ảnh hưởng lên hủy cốt bào, ức chế quá trình tái hấp thu, và có khả năng điều trị bệnh loãng xương.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 4 tháng 11 năm 2022
|
|
Vào giữa tháng 6 năm 2022, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ khuyến cáo việc sử dụng vaccine COVID-19 cho các trẻ em dưới 6 tháng tuổi. Bộ Y Tế Việt Nam cũng đưa ra khuyến cáo tương tự vào tháng 7. Một nghiên cứu đa trung tâm đã khảo sát tính hiệu quả và độ an toàn của vaccine mRNA-1273, được sản xuất bởi công ty dược Moderna, và công bố kết quả tạp chí y học New England Journal of Medicine.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 2 tháng 11 năm 2022
|
|
Interleukin-4 là tín hiệu chủ đạo trong bệnh viêm da dị ứng. Vì thế, kháng thể dupilumab, với khả năng ức chế thụ thể IL-4 có thể được sử dụng để điều trị. Nhưng do tính hiệu quả thấp, các loại thuốc khác như upadacitinib đang được nghiên cứu để thay thế. Thuốc có tầm hoạt động rộng hơn do khả năng ức chế protein JAK và đang được sử dụng trong việc chữa trị bệnh viêm thấp khớp. Một nghiên cứu so sánh giữa hai loại thuốc đã công bố kết quả trên tạp chí y học Journal of the American Medical Society - Dermatology.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 31 tháng 10 năm 2022
|
|
Nirsevimab là một loại kháng thể được thiết kế để tương tác với fusion protein trên bề mặt của respiratory syncytial virus (RSV). Vì thế, thuốc đã được cho phép sử dụng để ngăn ngừa nhiễm RSV trong trẻ sinh non. Một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty dược MedImmune, AstraZeneca và Sanofi đã báo cáo về sự hiệu quả của nirsevimab trong việc ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ sinh đủ tháng và cận thiếu tháng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 28 tháng 10 năm 2022
|
|
Việc sử dụng ivermectin để phòng ngừa và điều trị nhiễm SARS-CoV-2 gây ra nhiều tranh cãi từ lúc đại dịch bất đầu. Vì thế, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để khảo sát sự hiệu quả của loại thuốc diệt ký sinh trùng này. Một nghiên cứu được xuất bản gần đây trên tạp chí y học Journal of the American Medical Association đã công bố kết quả ủng hộ các nghiên cứu trước đó rằng ivermectin không hiệu quả trong việc điều trị bệnh COVID-19 ở người lớn đang được điều trị ngoại trú.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 26 tháng 10 năm 2022
|
|
Vì sự xâm nhập tế bào của virus SARS-CoV-2 phụ thuộc vào tương tác của protein spike, nên virus chỉ có thể vào các tế bào có thụ thể angiotensin-converting enzyme 2 (ACE2) và transmembrane serine protease 2 (TMPRSS2). Ngoài đường hô hấp, các tế bào trong hệ tiêu hoá đều có các thụ thể này. Tương tác sinh học này giúp giải thích vì sao virus có thể được phân lập từ mẫu phân và các bệnh nhân có báo cáo triệu chứng tiêu hoá. Nhưng chúng ta vẫn chưa biết về tỷ lệ của các ca bệnh này. Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo về tuần suất của các biến chứng tiêu hoá ở các bệnh nhi.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 24 tháng 10 năm 2022
|
|
Chất ức chế protein bơm proton (PPI), giống như lansoprazole, thường được sử dụng trong việc điều trị viêm loét thực quản; nhưng, các nghiên cứu trước báo cáo rằng thuốc có tỷ lệ thất bại ở khoảng 5% tới 20%, và tỷ lệ thất bại lên đến 30% ở các ca nặng. Vì thế các hoạt chất khác nên được sử dụng với các bệnh nhân này. Thuốc ngăn cản tích dịch dạ dày bằng cách bám vào ion kali (PCAB) có thể là được sử dụng thay thế. Vì thuốc có thời gian phân hủy lâu hơn và khả năng hoạt động rộng hơn, PCAB có thể được sử dụng để điều trị. Một nghiên cứu đa trung tâm đã công bố kết quả so sánh tính hiệu quả giữa lansoprazole và PCAB, dưới dạng vonoprazan.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 21 tháng 10 năm 2022
|
|
Hiện tượng biến sắc da ở các bệnh nhân mắc bệnh bạch biến bị gây ra bởi việc các tế bào T CD8 tấn công tế bào biểu bì tạo hắc tố melanocyte khỏe mạnh. Các tế bào bạch cầu được kêu gọi tới khu vực ảnh hưởng bởi việc kích hoạt đường tính hiệu JAK-STAT bởi cytokine Interferon-γ. Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 trước đã công bố rằng hoạt chất ức chế protein JAK, ruxolitinib, giúp gia tăng quá trình tái tạo màu da. Kết quả từ cuộc nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 tiếp theo đã được công bố và giúp chúng ta hiểu hơn về sự hiệu quả của kem.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 19 tháng 10 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu trước đã báo cáo rằng truyền sóng từ qua hộp sọ, như sóng theta, có thể dùng để chữa bệnh trầm cảm. Sự hiệu quả của các biện pháp này phụ thuộc vào khả năng hình thành khớp thần kinh synapse mới của não, vì vậy việc bổ sung các hoạt chất điều hòa quá trình này có thể tăng lợi ích của liệu trình. D-cycloserine (DCS) có thể kích hoạt thụ thể N-methyl-D-aspartate trên bề mặt synapse và kích thích quá trình tạo khớp thần kinh mới. Một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học và bác sĩ ở trường đại học Calgary đã báo cáo rằng việc bổ sung DCS có thể giúp chữa bệnh trầm cảm.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 17 tháng 10 năm 2022
|
|
Hiện tại, hiểu biết của ngành về sự ảnh hưởng của thuốc chữa trị bệnh trầm cảm lên thai nhi còn đang hạn hẹp. Vì thế nhiều người phụ nữ đang mang thai ngưng sử dụng thuốc để tránh tác động lên thai nhi. Kèm với các tác động tâm lý lúc và sau khi mang thai, sức khỏe tâm lý của bà mẹ có thể bị xấu hơn và ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa mẹ và con. Một nghiên cứu được xuất bản gần đây trên tạp chí y học Journal of the American Medical Association đã khảo sát sử ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc chữa trầm cảm lên sự phát triển thần kinh và tâm lý của trẻ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 14 tháng 10 năm 2022
|
|
Acetazolamide có khả năng ức chế enzyme carbonic anhydrase trên ống lượn gần ở thận để tăng sự hấp thu natri. Vì thế, thuốc tăng tính lợi tiểu và giảm sự trữ nước trong cơ thể. Một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí y học New England Journal of Medicine đã công bố sự hiệu quả của acetazolamide trong việc điều trị bệnh nhân bị suy tim và trữ nước.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 10 năm 2022
|
|
Các loại thuốc statin mạnh như rosuvastatin thường được sử dụng để điều trị bệnh gan nhiễm mỡ không gây ra bởi rượu bia (NALFD). Nhưng khi sử dụng ở liều cao, thuốc có nhiều phản ứng phụ. Vì thế các dược phẩm khác với ít ảnh hưởng tiêu cực cần được bổ sung và thay thế statin liều cao. Một nghiên cứu được thực hiện bởi các bác sĩ ở trường đại học Yonsei ở Hàn Quốc đã báo cáo về khả năng bổ sung ezetimibe vào liệu trình chữa trị hiện tai.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 10 tháng 10 năm 2022
|
|
Hiện tại chúng ta biết rất ít về sự ảnh hưởng của việc tiêm vaccine COVID-19 lên việc mang thai. Vì vậy nhiều nguồn thông tin không đáng tin cậy thường đưa tin rằng vaccine không an toàn với sức khỏe của thai nhi và của bà mẹ. Một bài nghiên cứu được xuất bản gần đây trên tạp chí y học Journal of the American Medical Association báo cáo về tính an toàn của vaccine COVID-19 đối với việc mang thai.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 7 tháng 10 năm 2022
|
|
Để đối phó với tình trạng đề kháng kháng sinh thuộc nhóm β-lactam, thuốc ức chế β-lactam thường được dùng kèm. Kháng sinh piperacillin thường được dùng kèm với tazobactam để chữa trị các trường hợp nhiễm trùng nặng như nhiễm khuẩn đường tiểu và viêm thận cấp. Như do tình trạng đề kháng kháng sinh, sự hiệu quả của các loại thuốc khác cần được khảo sát. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học Journal of the American Medical Association đã so sánh sự phối hợp thuốc trên với Cefepime và Enmetazobactam.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 5 tháng 10 năm 2022
|
|
Trong các năm gần đây, tỷ lệ các bệnh dị ứng ở Việt Nam gia tăng. Vì thế, các chuyên gia y tế cần được cập nhật với các thông tin mới nhất về các liệu trình điều trị và các phương pháp dự phòng cho các hội chứng này. Một nghiên cứu gần đây đã khảo sát độ hiệu quả của việc sử dụng các loại kem làm mềm da để ngăn ngừa bệnh viêm da dị ứng ở trẻ sơ sinh.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 3 tháng 10 năm 2022
|
|
Retinoid, một chất chuyển hóa từ vitamin A, có thể dùng để chữa trị mụn bằng cách ngăn ngừa sự phát triển và biệt hóa của tế bào da. Có nhiều thuốc trong nhóm retinoid; mỗi loại ức chế những loại thụ thể retinoid khác nhau và có tính dung nạp thuốc khác nhau. Một nghiên cứu đánh giá tài liệu được xuất bản gần đây báo cáo về sự hiệu quả và độ an toàn của Tazarotene, một loại thuốc retinoid có khả năng ức chế 2 trong 6 loại thụ thể.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 30 tháng 9 năm 2022
|
|
Designed ankyrin repeat protein (DARPins) là một nhóm thuốc ức chế mới mà chúng ta có thể thay đổi khu vực hoạt động để có thể bám vào mục tiêu sinh hoạt thích hợp. Một dự án liên kết giữa 2 công ty dược, Molecular Partners và Novartis, đã sử dụng DARPins để chế một loại thuốc có khả năng ức chế virus SARS-CoV-2. Nhóm nghiên cứu công bố kết quả về tính hiệu quả của loại thuốc mang tên Ensovibep.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 28 tháng 9 năm 2022
|
|
Roflumilast là một loại thuốc kháng viêm đã được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt cho việc chữa trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) vào năm 2020. Dạng dùng ngoài da của thuốc cũng đã được cho phép sử dụng để chữa bệnh vẩy nến vào tháng 7 năm 2022. Nhóm nghiên cứu đã xuất bản kết quả của 2 cuộc điều tra về sự hiệu quả và tính an toàn của roflumilast
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 26 tháng 9 năm 2022
|
|
Dựa vào số liệu thống kê của nhóm nghiên cứu GBD 2019, nhiễm trùng đường hô hấp là nguyên nhân tử vong cao thứ ba ở các trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam. Vì vậy liệu trình điều trị các bệnh giống như cúm cần được cập nhật và cải thiện. Một nghiên cứu được xuất bản gần đây trên tạp chí nhi khoa JAMA Pediatric báo cáo rằng sử dụng oseltamivir giúp cải thiện tình trạng bệnh của các trẻ đang nhập viện do cúm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 23 tháng 9 năm 2022
|
|
Để điều trị bệnh tiểu đường loại 2, bộ Y Tế Việt Nam khuyến cáo sử dụng metformin, insulin, sulfonylurea, thuốc ức chế dipeptidyl peptidase 4, và thuốc chủ vận thụ thể glucagon-like peptide-1. Phác đồ điều trị khuyến cáo bác sĩ cân nhắc về tính chống chỉ định của từng loại thuốc trong việc chọn phương thức điều trị, nhưng văn bản không đưa thông tin về sự hiệu quả của từng loại thuốc. Một nghiên cứu xuất bản bởi cuộc điều tra đa trung tâm GRADE báo cáo về sự hiểu quả của các nhóm thuốc trên trong việc điều trị bệnh tiểu đường loại 2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 21 tháng 9 năm 2022
|
|
Thuốc ức chế Vitamin K thường được sử dụng để ngăn ngừa đột quỵ ở các bệnh nhân mắc bệnh rung nhĩ; nhưng, bệnh nhân thường phải được thử máu để điều chỉnh liều. Các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy thuốc ức chế factor Xa như rivaroxaban có thể ngăn ngừa, nhưng chúng ta không biết sự hiệu quả của thuốc ở các bệnh nhân mắc bệnh thấp tim và rung nhĩ. Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo kết quả tìm thấy từ sự so sánh giữa hai loại thuốc.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 19 tháng 9 năm 2022
|
|
Thuốc ức chế bơm proton (PPI), giống như lansoprazole, thường được sử dụng để điều trị bệnh viêm loét thực quản bằng cách gia tăng độ pH trong môi trường dạ dày. Nhưng sự hiệu quả của PPI phụ thuộc vào dạng enzyme gan CYP2C19 mà bệnh nhân có. Một nghiên cứu gần đây báo cáo về sự hiểu quả của việc sử dụng keverprazan, thuốc ức chế acid cạnh tranh kali không phụ thuộc vào men gan CYP2C19, để điều trị viêm loét dạ dày.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 16 tháng 9 năm 2022
|
|
Mức độ nặng của bệnh COVID-19 có tính liên quan tỷ lệ thuận với lượng Interleukin-6 trong cơ thể. Vì vậy, các dược phẩm mang tính chất ức chế IL-6 có khả năng giảm tình trạng siêu viêm. Bác sĩ, tiến sĩ Bonnie Lonze, MD., PhD. và các đồng nghiệp đã xuất bản kết quả từ cuộc nghiên cứu về khả năng sử dụng clazakizumab để điều trị COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A.
|
Đăng vào ngày 14 tháng 9 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu trước đã báo cáo rằng việc nhiễm SARS-CoV-2 ảnh hưởng chức năng gan (A-LFT). Nhưng vẫn chưa rõ rằng nếu chức năng gan có khôi phục lại như lúc trước khi bẽnh hay việc rối loạn chức năng gan là một biến chứng của hậu COVID-19. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học Journal of Viral Hepatitis đã báo cáo thêm về vấn đề này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 9 năm 2022
|
|
Nhiễm viêm gan B mãn tính là một vấn đề y tế lớn ở Việt Nam, tần suất bệnh trong dân số là 8% - 25%. Truyền nhiễm từ mẹ sang con là hình thức phổ biến nhất, vì vậy kiểm soát lượng virus ở phụ nữ mang thai rất quan trọng trong việc ngăn ngừa gia tăng số lượng ca nhiễm. Một nghiên cứu tổng quan lý thuyết phân tích việc sử dụng tenofovir disoproxil fumarate ở mẹ và thai nhi.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 9 tháng 9 năm 2022
|
|
Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo rằng trẻ em trên 6 tháng tuổi nên được tiêm chủng phòng chống COVID-19. Nhưng trẻ sơ sinh có nguy cơ nhiễm SARS-CoV-2 nặng rất cao. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học New England Journal of Medicine báo cáo rằng tiêm ngừa khi người mẹ đang mang thai giúp giảm rủi ro nhiễm bệnh khi trẻ đã được sinh ra.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 7 tháng 9 năm 2022
|
|
Albuterol, còn được biết với tên Salbutamol, là một loại thuốc làm giãn phế quản dạng hít (SABA) thường được dùng để giảm cơn hen suyễn. Thêm vào đó, tổ chức Global Initiative for Asthma khuyến cáo sử dụng corticosteroid dạng hít (ICS) như budesonide để quản lý hen suyễn. Một nghiên cứu giai đoạn 3 được thực hiện bởi bác sĩ Alberto Papi và Bradley E. Chipps để điều tra sự hiệu quả của việc chỉ dùng albuterol hoặc kết hợp với budesonide trong việc ngăn ngừa lên cơn hen suyễn nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 5 tháng 9 năm 2022
|
|
Bệnh đa xơ cứng bị gây ra khi hệ miễn dịch của cơ thể tự tấn công các bao myelin bao quanh tế bào thần kinh. Vì hoạt động của tế bào B quan trọng với quá trình tự miễn dịch, nhiều kháng thể cụ thể với tế bào B đã được cho phép trong việc chữa trị. Bài nghiên cứu sau so sánh sự hiệu quả của việc sử dụng kháng thể Ublituximab, cụ thể với thụ thể CD20 trên tế bào B, với Teriflunomide.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 2 tháng 9 năm 2022
|
|
Viêm khớp dạng thấp bị gây ra khi hệ miễn dịch của bệnh nhân tự tấn công các tế bào màng khớp. Cách bệnh nhân bị viêm khớp dạng thấp có thể sử dụng các loại thuốc có khả năng bám vào thụ thể IL-6 trên tế bào miễn dịch để làm giảm hoạt động của chúng. Nhưng hiện tại chưa có loại thuốc nào ảnh hưởng trực tiếp lên phối tử IL-6 được phê duyệt cho sử dụng. Sự hiệu quả và an toàn của Olokizumab, một loại kháng thể có khả năng bám vào IL-6, được đánh giá qua nghiên cứu này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 31 tháng 8 năm 2022
|
|
Mỗi năm, khoảng nửa triệu trẻ em tử vong do tiêu chảy cấp, và đa phần các ca xuất hiện ở các quốc gia Nam Á và Châu Phi hạ Sahara. Ngoài rotavirus, bệnh thường được gây ra bởi vi khuẩn như thuộc chi và loài: Shigella, Camplyobacter và E. coli. Một nghiên cứu đa quốc gia báo cáo về sức ảnh hưởng của việc sử dụng Azithromycin để điều trị tiêu chảy cấp ở các quốc gia đang phát triển.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 29 tháng 8 năm 2022
|
|
Nirmatrelvir được bao gồm vào phác đồ điều trị COVID-19 của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ (NIH). Thuốc ức chế tính năng của protein, 3CLpro, cần thiết cho việc nhân bản của virus. Do sự gia tăng của chủng Omicron, việc đề kháng kháng virus có thể làm mất tác dụng của thuốc. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí New England Journal of Medicine điều trị tính hiệu quả của Nirmatrelvir.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 26 tháng 8 năm 2022
|
|
Với việc xuất hiện của các biến thể SARS-CoV-2, các nghiên cứu gần đây báo cáo rằng sự hiệu quả của vaccine suy giảm. Vì vậy, các loại thuốc có khả năng diệt virus và giảm triệu chứng rất cần thiết. Các loại thuốc đã được duyệt để chữa các chỉ định khác có thể được tái sử dụng chữa trị COVID-19 bởi vì tính an toàn của chúng đã được chứng minh. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí New England Journal of Medicine đã báo cáo về sự hiệu quả của việc sử dụng thuốc metformin, ivermectin, và fluvoxamine để chữa trị COVID-19.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 24 tháng 8 năm 2022
|
|
Dựa vào cơ sở dữ liệu giám sát an toàn dược phẩm VigiBase được lập ra bởi tổ chức y tế thế giới (WHO), nhồi máu cơ tim, thuyên tắc động mạch phổi và đột quỵ thường được báo cáo sau khi tiêm vaccine phòng ngừa COVID-19. Sử dụng thông tin từ hệ thống dữ liệu y tế quốc gia của Pháp, một bài nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học nội khoa Annals of Internal Medicine báo cáo về mối quan hệ giữa vaccine COVID-19 và những biến chứng tim mạch nghiêm trọng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 22 tháng 8 năm 2022
|
|
Ruột già của chúng ta chứa một tập hợp các vi khuẩn có lợi. Sự tương tác giữa các vi khuẩn này và các chất chuyển hóa được chúng tạo ra có sức ảnh hưởng tốt lớn đến sức khỏe. Một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí Nature công bố rằng số lượng lợi khuẩn Blautia wexlerae có sự liên quan đến các bệnh như béo phì và tiểu đường loại 2
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 19 tháng 8 năm 2022
|
|
Mặc dù SARS-CoV-2 đã được loại trừ, các chức năng tiêu hóa, thần kinh và nội tiết vẫn còn bị ảnh hưởng. Bởi vì cơ thể phải trải qua một tình trạng sưng viêm kéo dài, các quá trình hoạt động bị ảnh hưởng. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí y học Journal of American Medical Association báo cáo rằng các bệnh nhân đã hồi phục sau COVID-19 bị gia tăng nguy cơ hình thành huyết khối ở tĩnh mạch.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 17 tháng 8 năm 2022
|
|
Từ khi chương trình tiêm chủng COVID-19 bắt đầu, đã có nhiều báo cáo về việc xuất huyết âm đạo và những dấu hiệu kinh nguyệt bất thường khác do vaccine. Nhưng chúng ta vẫn chưa biết xác suất rủi ro và cơ cấu đằng sau sự tương tác giữa vaccine và triệu chứng. Một nghiên cứu quan sát gần đây được xuất bản trên tạp chí y học Lancet báo cáo thêm về vấn đề này.
|
|
Ezetimibe là một loại thuốc làm giảm cholesterol bằng cách ngăn chặn quá trình hấp thu ở ruột non. Một nghiên cứu gần đây công bố rằng việc kết hợp sử dụng ezetimibe và rosuvastatin liều trung bình có khả năng phòng ngừa bệnh tim mạch tương đương với rosuvastatin liều cao và có ít tỉ lệ ngưng sử dụng thuốc hơn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 12 tháng 8 năm 2022
|
|
Denosumab thường được kê toa để điều trị loãng xương bởi vì nó có thể ức chế sự phát triển của nguyên bào xương (osteoclast). Vì vậy, thuốc có khả năng giảm tốc độ phân hủy của xương. Hiệp hội nội tiết thế giới khuyến cáo phụ nữ mãn kinh có nguy cơ nứt xương nên được tiêm 60 mg Denosumab mỗi 6 tháng. Một nghiên cứu gần đây báo cáo rằng giảm liều từ 60 mg xuống 30 mg không làm trầm trọng hơn bệnh loãng xương
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 10 tháng 8 năm 2022
|
|
Lupus ban đỏ ngoài da (CLE) là một bệnh tự miễn dịch khi hệ miễn dịch tấn công tế bào da khỏe mạnh. Các tổn thương bị gây ra chủ yếu bởi tế bào T CD8 dương tính và các cytokines được sản xuất bởi tế bào tua plasmacytoid. Các nghiên cứu trước đã tìm thấy rằng mức độ nghiêm trọng của bên Lupus ban đỏ ngoài da có liên quan với lượng cytokine Interferon loại I được sản xuất bởi tế bào tua plasmacytoid. Gần đây một nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 công bố rằng Litifilimab có khả năng giúp giảm triệu chứng ngoài da của CLE.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 8 tháng 8 năm 2022
|
|
Tính đến ngày 8 tháng 8 năm 2022, đã có 83 ca Monkeypox được báo cáo từ 8 quốc gia thuộc vào nhóm Nam-Đông Á và Tây Thái Bình Dương. Hiện ở Việt Nam, chưa có ca nào, nhưng đã có 18 ca được báo cáo từ 3 quốc gia trong khối ASEAN: Singapore (15 ca), Thailand (2 ca), Philippines (1 ca). Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí khoa học New England Journal of Medicine đã tóm tắt các biểu hiện lâm sàng của bệnh Monkeypox.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 5 tháng 8 năm 2022
|
|
Dựa vào một thông báo được công bố trên tạp chí y học New England Journal of Medicine, một loài Henipavirus mới vừa được phát hiện ở Trung Quốc. Virus thuộc vào loài Langya Henipavirus (LayV), chi Henipavirus của họ Paramyxoviridae. LayV rất giống với loài virus Mojiang Henipavirus đã từng đươc phát hiện ở phía Nam Trung Quốc
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 3 tháng 8 năm 2022
|
|
Mặc dù việc nhiễm SARS-CoV-2 cấp tính đã được giải quyết, nhiều bệnh nhân vẫn còn bị ảnh hưởng bởi những di chứng bất thường. Các di chứng này thường được gọi là hậu-COVID, và bao gồm sự rối loạn chức năng hô hấp, tiêu hóa, thần kinh,… Một nghiên cứu thuần tập gần đây báo cáo rằng tiểu đường có thể là một di chứng của việc nhiễm SARS-CoV-2 cấp tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 1 tháng 8 năm 2022
|
|
Molnupiravir là một ribonucleoside tautomer có hình dạng tương tự với cytidine và uridine. Thuốc được sự phê duyệt của Cục quản lý Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho việc điều trị COVID-19 nhẹ và vừa. Trong quá trình phê duyệt, nhóm thử nghiệm lâm sàng đã công bố kết quả về sự hiệu quả của molnupiravir lên bệnh COVID-19 và cái biomarker liên quan...
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 29 tháng 7 năm 2022
|
|
Hiện tại đang có rất ít nghiên cứu về sự ảnh hưởng của COVID-19 lên phụ nữ mang thai và sức khỏe của thai nhi. Một nghiên cứu gần đây tìm thấy SARS-CoV-2 làm tăng nguy cơ sẩy thai nếu bị nhiễm vào 3 tháng đầu của thai kỳ...
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 27 tháng 7 năm 2022
|
|
Nurse Health Study là một nghiên cứu theo chiều dọc lớn được tài trợ bởi Viện Y Học Quốc Gia Hoa Kỳ. Dự án nghiên cứu đa thập kỷ này đã cung cấp nhiều kiến thức dịch tễ học quan trọng về vấn đề sức khỏe phụ nữ. Gần đây dự án có công bố kết quả trên tạp chí y học của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ rằng phụ nữ với tiền sử lạc nội mạc tử cung có tăng nguy cơ đột quỵ...
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 25 tháng 7 năm 2022
|
|
Nhiều cá nhân thường sử dụng Vitamin D để chữa trị và phòng ngừa cách bệnh lão hóa xương khớp và chấn thương giống như loãng xương và gãy xương. Nhưng một nghiên cứu được xuất bản gần đây trên tạp chí y học New England Journal of Medicine báo cáo rằng việc bổ sung Vitamin D3 không có lợi ích ngăn ngừa gãy xương ở người lớn tuổi...
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 22 tháng 7 năm 2022
|
|
Rosuvastatin and Atorvastatin là 2 loại thuốc mang tính chất ức chế enzyme HMG-CoA reductase. Thuốc thường được kê toa để chữa trị bệnh tăng lipid máu, bệnh tăng cholesterol máu và dùng để phòng ngừa các bệnh tim mạch. Một nghiên cứu đa trung tâm của tiến sĩ, bác sĩ Jung-Im Shin và đồng nghiệp báo cáo rằng Rosuvastatin có ảnh hưởng lớn đến chứng năng thận hơn Atorvastatin...
|