|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2026
|
|
Triglyceride cao trong máu gia tăng nguy cơ viêm tụy cấp. Do đó, các liệu pháp làm giảm nồng độ triglyceride trong huyết thanh, chẳng hạn như fibrate, thường được sử dụng để giảm rủi ro biến chứng ở tụy. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả và độ an toàn của olezarsen, một thuốc ức chế apolipoprotein C-III, trong việc làm giảm nồng độ triglyceride và ngăn ngừa viêm tụy.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 2 năm 2026
|
|
Nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) gia tăng có khả năng thúc đẩy sự hình thành mảng xơ vữa dọc theo nội mô mạch máu, dẫn đến hẹp lòng mạch và suy giảm lượng máu lưu thông. Quá trình này làm tăng đáng kể nguy cơ mắc các biến cố tim mạch do xơ vữa động mạch, bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quỵ thiếu máu cục bộ. Với sự tài trợ của Amgen, một nghiên cứu lâm sàng quy mô lớn đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của evolocumab trong việc ngăn ngừa các biến cố tim mạch nghiêm trọng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 1 năm 2026
|
|
Việc sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 đã trở nên rất phổ biến như một phương pháp để kiểm soát cân nặng, quản lý bệnh tiểu đường và ngăn ngừa các biến chứng sức khỏe khác liên quan đến béo phì. Một số biến chứng này là các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Với sự tài trợ của Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành nhằm so sánh tirzepatide với dulaglutide trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 1 năm 2026
|
|
Tại nhiều quốc gia, liệu pháp aspirin dài hạn thường được khuyến cáo cho bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Các hướng dẫn gần đây hơn đã đề xuất bổ sung thuốc ức chế P2Y12 vào aspirin, mặc dù bằng chứng hỗ trợ phương pháp này vẫn còn hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu được tài trợ bởi Hội đồng Nghiên cứu Thụy Điển đã đánh giá lợi ích và rủi ro tim mạch của việc kết hợp aspirin với ticagrelor ở bệnh nhân sau phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 1 năm 2026
|
|
Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng những người có nồng độ axit béo không bão hòa đa n-3 trong máu cao có nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp hơn. Nhiều bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo do bệnh thận giai đoạn cuối cũng mắc các bệnh tim mạch. Thêm vào đó, những bệnh nhân này có mức axit béo không bão hòa đa n-3 thấp hơn bình thường. Với sự tài trợ của Quỹ Tim mạch và Đột quỵ Canada, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác dụng tim mạch của việc bổ sung dầu cá ở những bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo.
|
|
Reviewed by Dat Tien Nguyen, B.A, ScM.
Translated by Nhi Phuong Quynh Le, B.A |
Posted on December 19th, 2025
|
|
As Vietnam’s diet and lifestyle patterns have shifted, obesity rates have risen sharply. At the same time, improved diagnosis and changing social conditions have contributed to a growing prevalence of depression. These two conditions often occur together, compounding chronic health burdens and increasing mortality risk. With support from the German Ministry of Education and Research, researchers conducted a study to investigate whether simvastatin could help manage both depression and obesity.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 12 năm 2025
|
|
Khi chế độ ăn uống và lối sống của người Việt Nam thay đổi, tỷ lệ béo phì đã tăng mạnh. Đồng thời, việc chẩn đoán được cải thiện và điều kiện xã hội thay đổi đã góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm. Hai tình trạng này thường xảy ra cùng nhau, làm trầm trọng thêm gánh nặng sức khỏe mãn tính và tăng nguy cơ tử vong. Với sự hỗ trợ từ Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Đức, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra xem simvastatin có thể giúp kiểm soát cả trầm cảm và béo phì hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 10 tháng 12 năm 2025
|
|
Thuốc chẹn beta từ lâu đã được kê đơn cho bệnh nhân nhằm ngăn ngừa nhồi máu cơ tim tái phát, chủ yếu là do đặc tính chống loạn nhịp tim của chúng. Tuy nhiên, phần lớn các bằng chứng ủng hộ phương pháp này đến từ các nghiên cứu được thực hiện hơn 40 năm trước - trước khi liệu pháp tái tưới máu động mạch vành hiện đại được sử dụng rộng rãi. Lợi ích của chúng ở những bệnh nhân có phân suất tống máu thất trái bảo tồn hoặc giảm nhẹ vẫn chưa được làm sáng tỏ. Vì vậy, nhằm giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do chính phủ tài trợ tại Na Uy đã đánh giá hiệu quả của thuốc chẹn beta trong bối cảnh lâm sàng hiện đại.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 28 tháng 11 năm 2025
|
|
Những người mắc bệnh tiểu đường phải đối mặt với nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ cao hơn và họ có nhiều khả năng gặp phải các biến cố tái phát. Các nghiên cứu trước đây cho thấy việc kiểm soát đường huyết đơn thuần - dù bằng insulin hay sulfonylurea - không thể giải thích đầy đủ cho nguy cơ này, điều này cho thấy các cơ chế bổ sung như viêm hoặc kháng insulin có thể góp phần gây tái phát. Với sự hỗ trợ từ chính phủ Trung Quốc, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá liệu liraglutide có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ và cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) ở bệnh nhân tiểu đường hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 11 năm 2025
|
|
Tăng áp động mạch phổi (PAH) là tình trạng hẹp các mạch máu phổi làm hạn chế lưu lượng máu đến phổi và làm suy yếu trao đổi khí. Các phương pháp điều trị hiện tại chỉ mang lại lợi ích một phần và không ngăn chặn hoàn toàn sự tiến triển của bệnh, tỷ lệ mắc bệnh hoặc tử vong. Một nghiên cứu gần đây được hỗ trợ bởi Merck đã tìm hiểu tiềm năng của sotatercept như một liệu pháp mới để kiểm soát bệnh PAH.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 19 tháng 11 năm 2025
|
|
Liệu pháp chống đông máu dài hạn thường được sử dụng để ngăn ngừa các biến chứng như huyết khối tái phát ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành mạn tính. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc kết hợp thuốc chống đông máu và thuốc chống tiểu cầu làm tăng nguy cơ chảy máu. Tuy nhiên, nhiều thử nghiệm trong số đó bị hạn chế do thiếu phương pháp làm mù và chỉ bao gồm những bệnh nhân có nguy cơ thấp. Nhằm giải quyết những hạn chế này, một nghiên cứu do Bộ Y tế Pháp và Bayer tài trợ đã tìm hiểu xem việc bổ sung aspirin vào chế độ điều trị chống đông máu có mang lại lợi ích cho những bệnh nhân có nguy cơ cao bị biến cố huyết khối hay không.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 10 năm 2025
|
|
Nồng độ aldosterone cao gia tăng nguy cơ bệnh tăng huyết áp không kiểm soát hoặc kháng trị. Baxdrostat là một chất ức chế tổng hợp aldosterone có nhiều chức năng sinh học và thời gian bán hủy dài 30 giờ. Thuốc có thể làm giảm nồng độ aldosterone, giúp giảm tình trạng giữ natri và nước, nguyên nhân gây tăng huyết áp. Với sự tài trợ từ công ty AstraZeneca, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng baxdrostat trong các trường hợp tăng huyết áp khó điều trị.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 10 năm 2025
|
|
Apolipoprotein C-III (APOC3) ức chế sự thanh thải triglyceride bằng cách can thiệp vào hoạt động của lipoprotein lipase. Olezarsen được biết đến như một oligonucleotide antisense nhắm vào và trung hòa mRNA của APOC3 để tăng cường chuyển hóa triglyceride. Ionis Pharmaceuticals đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của olezarsen trong việc kiểm soát tình trạng tăng triglyceride máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 10 năm 2025
|
|
Đối với bệnh nhân bị huyết khối tắc mạch tĩnh mạch nguy cơ thấp do ung thư hoặc huyết khối, có thể sử dụng thuốc chống đông trong vòng 3 tháng. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa rõ thời gian sử dụng thuốc chống đông phù hợp cho huyết khối tắc mạch tĩnh mạch nguy cơ thấp do béo phì, phẫu thuật hoặc nằm bất động. Với sự tài trợ của Bristol-Myers Squibb & Pfizer, một nghiên cứu đã được thực hiện để xác định liệu trình tối ưu của apixaban nhằm ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch do yếu tố tạm thời gây ra.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 10 năm 2025
|
|
Các glycoside tim như digoxin thường được kê đơn để kiểm soát suy tim. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy digoxin có hiệu quả hạn chế trong việc kiểm soát suy tim có phân suất tống máu giảm. Do những tiến bộ gần đây trong các liệu pháp điều trị các bệnh tim mạch khác, chính phủ Đức đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá việc sử dụng digitoxin để kiểm soát suy tim có phân suất tống máu giảm.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 13 tháng 10 năm 2025
|
|
Hiện nay, phác đồ điều trị của căn bệnh đột quỵ thiếu máu cục bộ được khuyến cáo sử dụng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch trong vòng 4,5 giờ sau khi khởi phát. Tuy nhiên, ngay khi được điều trị kịp thời, hơn một nửa số bệnh nhân vẫn không thể phục hồi hoàn toàn chức năng. Với mục tiêu tăng độ hiệu quả trong điều trị, chính phủ Trung Quốc đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá liệu tirofiban có thể cải thiện kết quả phục hồi khi được bổ sung vào liệu pháp tiêu sợi huyết tiêu chuẩn hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 9 năm 2025
|
|
Các nghiên cứu trước đây cho thấy mối liên hệ giữa việc sử dụng chất thuốc chế interleukin-17 (IL-17) trong bệnh vẩy nến và nguy cơ gia tăng các biến cố tim mạch nghiêm trọng. Phản ứng này có thể do vai trò của IL-17 trong quá trình sản xuất collagen. Bằng cách làm giảm nồng độ IL-17, các liệu pháp nhắm vào tế bào T-helper 17 có thể làm mất ổn định các mảng xơ vữa động mạch. Điều này làm tăng nguy cơ tắc nghẽn mạch máu. Để tìm hiểu thêm về vấn đề này, Hiệp Hội Da Liễu Pháp đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá tính an toàn của thuốc ức chế IL-17 trên tim mạch.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 9 năm 2025
|
|
Pregabalin và gabapentin thường được sử dụng để kiểm soát cơn đau mãn tính. Các thuốc nhóm gabapentinoid này được ưa chuộng hơn opioid do thuốc không cơ nguy cơ gây nghiện. Tuy nhiên, những loại thuốc này có liên quan đến nguy cơ tác dụng phụ về tim mạch, nhưng vẫn chưa có sự chứng minh rõ ràng. Với sự tài trợ của Viện Quốc gia về Viêm khớp, Cơ xương và Da liễu Hoa Kỳ, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá nguy cơ tim mạch của việc sử dụng pregabalin và gabapentin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 8 năm 2025
|
|
Việc sử dụng cần sa ngày càng phổ biến. Vì thế các chuyên gia y tế nên hiểu rõ rủi ro và lợi ích của cần sa. Trước đây, đã có những nghiên cứu cho thấy việc sử dụng cần sa liên quan đến việc giảm lo âu, đau mãn tính, v.v. Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu phát hiện ra rằng cần sa làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý khác. Để giải đáp nghi vấn này, Viện Tim, Phổi và Máu Quốc Gia Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối liên hệ giữa cần sa và sức khỏe tim mạch.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 7 năm 2025
|
|
Tiêu huyết khối tĩnh mạch trước khi phẫu thuật huyết khối nội mạch giúp tăng cường lưu thông máu não. Nhưng điều trị gia tăng nguy cơ xuất huyết. Các nghiên cứu trước đây không đưa ra kết quả nhất quán, và hầu hết các nghiên cứu đều được thực hiện với alteplase. Với sự tài trợ của chính phủ Trung Quốc, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng tenecteplase trước khi lấy huyết khối cho bệnh nhân đột quỵ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 7 năm 2025
|
|
Nồng độ cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) trong huyết thanh cao có liên quan đến nguy cơ mắc các biến cố tim mạch cao hơn. Điều trị bằng statin có thể không mang lại mức độ cải thiện lâm sàng cần thiết và việc tăng liều có thể bị hạn chế bởi các tác dụng phụ. Với sự tài trợ từ New Amsterdam Pharma, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng obicetrapib để kiểm soát nồng độ cholesterol trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 7 năm 2025
|
|
Với sự gia tăng tần suất các rối loạn tim mạch ở các quốc gia đang phát triển và mới phát triển, tỷ lệ đột quỵ cũng tăng theo. Chế độ ăn nhiều natri là một yếu tố nguy cơ gây ra các bệnh lý này, do nó góp phần gây tích tụ dịch làm tăng huyết áp. Một nghiên cứu đã được thực hiện với sự tài trợ của chính phủ Trung Quốc nhằm tìm hiểu tiềm năng của việc sử dụng muối thay thế trong việc ngăn ngừa đột quỵ tái phát.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 6 năm 2025
|
|
Những người mắc bệnh tiểu đường loại 2 có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao hơn. Nghiên cứu trước đây kiểm tra khả năng kiểm soát đường huyết của semaglutide - một chất chủ vận thụ thể GLP-1, được phát hiện ra rằng nó cũng làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Để khám phá mối quan hệ này một cách cụ thể, Novo Nordisk đã tài trợ cho một nghiên cứu để kiểm tra tác dụng của semaglutide đối với sức khỏe tim mạch ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường loại 2.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 6 năm 2025
|
|
Tăng huyết áp động mạch phổi (PAH), nếu không được điều trị hoặc kiểm soát kém, có thể tiến triển thành suy thất phải và cuối cùng dẫn đến tử vong. Mặc dù các liệu pháp hiện tại có thể làm chậm quá trình tiến triển của bệnh, nhưng chúng chưa chứng minh được khả năng ngăn ngừa các biến chứng nghiêm trọng như nhập viện, ghép phổi hoặc tử vong. Để giải quyết nhu cầu chưa được đáp ứng này, một nghiên cứu do Merck tài trợ đã điều tra việc sử dụng sotatercept như một liệu pháp tiềm năng có thể thay đổi bệnh cho PAH.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 6 năm 2025
|
|
Mặc dù sử dụng nhiều phác đồ thuốc,nhưng nhiều bệnh nhân bị tăng huyết áp vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong việc kiểm soát huyết áp. Nghiên cứu mới cho thấy rối loạn aldosterone có thể là động lực chính gây ra tình trạng tăng huyết áp kháng trị. Với nguồn tài trợ từ Mineralys Therapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá lorundrostat - một chất ức chế aldosterone synthase nhằm kiểm soát huyết áp ở nhóm dân số này.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 5 năm 2025
|
|
Chiến lược chống đông máu tối ưu cho bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch não vẫn là chủ đề tranh luận hiện nay. Trong khi thuốc chống đông bằng đường uống trực tiếp tiện lợi hơn cho bệnh nhân và có tỷ lệ xuất huyết nội sọ thấp hơn, nhưng thuốc đối kháng vitamin K vẫn tiết kiệm chi phí hơn. Ngoài ra, thuốc đối kháng vitamin K có liên quan đến nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa thấp hơn và được ưa chuộng ở những bệnh nhân có van tim cơ học. Do thiếu sự đồng thuận giữa hai loại thuốc, một nghiên cứu quan sát đa quốc gia đã được thực hiện với sự hỗ trợ của Quỹ Huyết khối Hà Lan.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 5 năm 2025
|
|
Lipoprotein(a) [Lp(a)] là thành phần chính trong quá trình hình thành các hạt LDL vận chuyển cholesterol. Nồng độ Lp(a) trong huyết thanh tăng cao có liên quan đến nguy cơ tử vong do tim mạch cao hơn. Nhằm giải quyết yếu tố nguy cơ này, Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của lepodisiran, một liệu pháp mới nhằm mục đích hạ thấp mức Lp(a).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 5 năm 2025
|
|
Các hướng dẫn lâm sàng ở cả Hoa Kỳ và Châu Âu đều khuyến cáo sử dụng chất ức chế đồng vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) cho bệnh nhân suy tim, bất kể tình trạng tiểu đường. Tuy nhiên, những cá nhân mắc bệnh van tim nặng cần phải cấy ghép van động mạch chủ qua ống thông phần lớn đã bị loại khỏi các nghiên cứu này. Để giải quyết khoảng trống này, một nghiên cứu do Viện Y tế Carlos III ở Tây Ban Nha tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng chất ức chế SGLT2 ở những bệnh nhân bị hẹp động mạch chủ nặng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 5 năm 2025
|
|
Bệnh nhân ung thư có nguy cơ huyết khối tắc mạch tĩnh mạch cao hơn đáng kể so với những người khỏe mạnh. Mặc dù nhiều hướng dẫn hiện tại khuyến nghị tiếp tục dùng thuốc chống đông trong suốt thời gian mắc ung thư, nhưng liệu pháp kéo dài làm tăng nguy cơ biến chứng chảy máu. Để tìm ra liều tối ưu, một nghiên cứu do Bristol-Myers Squibb tài trợ đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của các chế độ dùng thuốc apixaban khác nhau trong việc ngăn ngừa huyết khối tắc mạch ở bệnh nhân ung thư.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 25 tháng 4 năm 2025
|
|
Lipoprotein(a) đóng vai trò quan trọng trong việc đóng gói và vận chuyển cholesterol trong máu thông qua lipoprotein tỷ trọng thấp. Nồng độ lipoprotein(a) tăng cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch bằng cách thúc đẩy sự tích tụ mảng bám. Với nguồn tài trợ từ Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá hiệu quả của Muvalaplin trong việc kiểm soát nồng độ lipoprotein(a).
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 9 tháng 4 năm 2025
|
|
Béo phì có liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của bệnh tiểu đường loại 2, một tình trạng được đánh dấu bằng rối loạn chức năng tế bào beta đáng kể và kháng insulin. Kiểm soát cân nặng—cho dù thông qua các can thiệp dược lý hay thay đổi lối sống—đã được chứng minh là có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Nhiều nghiên cứu đã nêu rõ lợi ích giảm cân của tirzepatide và một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ đã khám phá tiềm năng của nó trong việc điều trị béo phì và ngăn ngừa bệnh tiểu đường.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 21 tháng 3 năm 2025
|
|
Hệ thống renin-angiotensin-aldosterone đóng vai trò quan trọng trong việc giữ nước. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân suy tim, tình trạng tích tụ dịch quá mức có thể làm tình trạng bệnh trở nên tồi tệ hơn, do đó, việc chặn hệ thống này bằng spironolactone đã được chứng minh là có lợi. Tương tự như vậy, eplerenone—một loại thuốc có liên quan chặt chẽ với spironolactone—đã có hiệu quả ở những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim và giảm phân suất tống máu. Do đó, một nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Sức khỏe Canada tài trợ đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng spironolactone trong việc kiểm soát sức khỏe tim mạch sau nhồi máu cơ tim.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 3 năm 2025
|
|
Empagliflozin là chất ức chế vận chuyển natri-glucose 2 (SGLT2) thường được kê đơn để kiểm soát bệnh tiểu đường loại 2. Không phụ thuộc vào tác dụng kiểm soát đường huyết, nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng chất ức chế SGLT 2 có thể làm giảm tăng huyết áp cầu thận và cải thiện chức năng thận. Với sự tài trợ từ Boehringer Ingelheim và Eli Lilly, một nghiên cứu gần đây đã khám phá việc sử dụng empagliflozin trong việc kiểm soát bệnh thận mãn tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 3 năm 2025
|
|
Xơ vữa động mạch và các biến chứng tim mạch có liên quan đến tình trạng viêm dai dẳng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc giảm viêm bằng canakinumab—chất ức chế interleukin-1 beta—có thể làm giảm nguy cơ biến cố thiếu máu cục bộ, mặc dù phương pháp điều trị này làm tăng đáng kể nguy cơ nhiễm trùng. Colchicine cũng có đặc tính chống viêm, đang được nghiên cứu về khả năng ngăn ngừa các biến cố tim mạch, như một phần của nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Sức khỏe Canada tài trợ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 24 tháng 2 năm 2025
|
|
Béo phì làm tăng cả nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của suy tim, vì các tế bào mỡ góp phần tạo ra môi trường gây viêm có thể gây tổn thương thêm cho các mô tim. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giảm thể tích tế bào mỡ ngoài màng tim thông qua việc giảm cân có thể làm giảm nguy cơ suy tim và cải thiện các triệu chứng. Tirzepatide - một loại thuốc chống đái tháo đường được sử dụng rộng rãi giúp kiểm soát cân nặng đã được phát hiện ra trong một nghiên cứu do Eli Lilly tài trợ về khả năng kiểm soát các triệu chứng ở những người bị suy tim.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 12 tháng 2 năm 2025
|
|
Rung nhĩ là dạng loạn nhịp tim phổ biến nhất, đặc trưng bởi các cơn co thắt nhĩ bất thường và nhanh. Việc thiếu phối hợp giữa các buồng tim này tạo ra dòng máu hỗn loạn, dẫn đến sự kết tụ của các tế bào hồng cầu và tạo thành cục máu đông. Do đó, bệnh nhân bị rung nhĩ phải đối mặt với nguy cơ đột quỵ tăng gấp năm lần. Tình trạng này hiện đang được điều trị bằng thuốc chống đông máu, chẳng hạn như rivaroxaban. Một nghiên cứu do Anthos Therapeutics tài trợ đã được tiến hành để so sánh hiệu quả của abelacimab với phác đồ chuẩn hiện tại trong việc giảm nguy cơ biến chứng tim mạch liên quan đến rung nhĩ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 2 năm 2025
|
|
Chylomicron là các hạt lipoprotein mà biểu mô ruột non sử dụng để vận chuyển chất béo trong chế độ ăn uống khắp cơ thể và đến gan sau đó, tạo thành các hạt chứa cholesterol như HDL và LDL. Bệnh nhân bị chứng chylomicronemia sẽ bị tích tụ quá nhiều các hạt này và cũng bị tăng triglyceride máu, làm tăng nguy cơ viêm tụy. Một nghiên cứu mới được công bố do Arrowhead Pharmaceuticals tài trợ, đã khám phá hiệu quả của plozasiran trong việc kiểm soát chứng chylomicronemia và ngăn ngừa viêm tụy.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 2 năm 2025
|
|
Các cơn co thắt cơ tim không đều ở những bệnh nhân bị rung nhĩ làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông, từ đó làm tăng khả năng đột quỵ. Mặc dù tình trạng này thường có thể được kiểm soát bằng thuốc chống đông máu, nhưng những người có nguy cơ chảy máu cao hơn không thể sử dụng hình thức điều trị này, do đó đã tạo ra nhu cầu về các liệu pháp thay thế. Một bài báo gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã khám phá việc sử dụng asundexian - một chất ức chế yếu tố XI, để ngăn ngừa đột quỵ ở những bệnh nhân bị rung nhĩ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 12 năm 2024
|
|
Thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid thường được dùng để điều trị suy tim có phân suất tống máu giảm, nhưng hiệu quả của chúng ở những bệnh nhân mắc các dạng bệnh nhẹ hơn vẫn chưa rõ ràng. Finerenone là thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid không steroid giúp giảm tình trạng giữ nước trong cơ thể. Bayer đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của finerenone trong việc kiểm soát suy tim có phân suất tống máu giảm nhẹ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 22 tháng 11 năm 2024
|
|
Semaglutide và tirzepatide là hai loại thuốc được kê đơn rộng rãi để kiểm soát bệnh tiểu đường loại 2. Semaglutide hoạt động bằng cách kích hoạt thụ thể GLP-1, trong khi tirzepatide nhắm vào cả thụ thể GLP-1 và GIP. Cả hai loại thuốc này đều giúp giảm hấp thụ glucose trong tế bào và gần đây đã cho thấy tiềm năng kiểm soát cân nặng. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh hiệu quả của semaglutide và tirzepatide trong việc thúc đẩy giảm cân.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 20 tháng 11 năm 2024
|
|
Thuốc chẹn beta là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho những người đã từng bị nhồi máu cơ tim; tuy nhiên, phương pháp này đã được thiết lập trước khi các kỹ thuật tái tưới máu cơ tim và liệu pháp dược lý hiện đại ra đời. Các nghiên cứu quan sát quy mô lớn gần đây không tìm thấy lợi ích rõ ràng của việc sử dụng thuốc chẹn beta dài hạn sau khi bị nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu được tài trở bởi Bộ Y tế Pháp đã được tiến hành nhằm xác định thời gian tối ưu cho liệu pháp thuốc chẹn beta sau nhồi máu cơ tim.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 28 tháng 10 năm 2024
|
|
Thuốc ức chế renin-angiotensin là một nhóm thuốc chống tăng huyết áp được kê đơn rộng rãi. Có khả năng việc sử dụng loại thuốc này trước khi phẫu thuật có thể dẫn đến các biến chứng do nguy cơ hạ huyết áp, có thể dẫn đến tổn thương thận cấp tính. Mặt khác, việc ngừng điều trị có thể gây ra tình trạng tăng huyết áp không kiểm soát được và các biến chứng trong quá trình phẫu thuật. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí y học Journal of the American Medical Association đã đánh giá nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật liên quan đến việc ngừng liệu pháp ức chế renin-angiotensin trước khi phẫu thuật.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 10 năm 2024
|
|
ANGPTL3 là một loại protein do tế bào gan sản xuất, có vai trò quan trọng trong việc điều hòa chuyển hóa lipid bằng cách ức chế lipoprotein lipase và endothelial lipase. Việc chặn ANGPTL3 có thể tăng cường quá trình loại bỏ lipoprotein giàu triglyceride và làm giảm mức cholesterol trong máu. Gần đây, công ty Arrowhead Pharmaceuticals đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá tiềm năng của zodasiran, một RNA can thiệp nhỏ (siRNA) có khả năng nhắm vào ANGPTL3, trong việc kiểm soát tình trạng tăng lipid máu.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 21 tháng 10 năm 2024
|
|
Điều trị đột quỵ do thiếu máu cục bộ bằng thuốc tiêu sợi huyết tĩnh mạch có thể khôi phục 30% lưu thông. Argatroban, một dẫn xuất của arginine, giúp giảm đông máu bằng cách liên kết với thrombin và ức chế sự hình thành fibrin, trong khi eptifibatide làm giảm kết tập tiểu cầu bằng cách chặn các thụ thể glycoprotein. Để đánh giá tiềm năng của việc thêm argatroban hoặc eptifibatide vào liệu pháp tiêu sợi huyết tiêu chuẩn trong việc giảm các biến chứng đột quỵ do thiếu máu cục bộ, một nghiên cứu đã được thực hiện với tài trợ bởi Viện Thần Kinh và Đột Quỵ Quốc Gia Hoa Kỳ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 9 tháng 10 năm 2024
|
|
Giảm lưu thông máu thận trong quá trình phẫu thuật bắc cầu tim phổi có thể làm giảm tốc độ lọc cầu thận, dẫn đến tổn thương thận cấp tính. Biến chứng này gia tăng nguy cơ mắc bệnh thận mãn tính và tử vong tăng đáng kể. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng truyền axit amin có thể làm giảm tình trạng giảm lưu thông máu thận và cải thiện oxy hóa thận. Theo quan điểm này, Bộ Y tế Quốc Gia Ý đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm khám phá những lợi ích tiềm năng của việc truyền axit amin tĩnh mạch trong quá trình phẫu thuật tim.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 20 tháng 9 năm 2024
|
|
Các nghiên cứu dịch tễ học trước đây đã chỉ ra rằng các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp như SARS-CoV-2 và Cúm Influenza có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch cấp tính và tử vong, đặc biệt là ở người lớn tuổi. Mặc dù vi-rút hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp theo mùa, nhưng tác động của vi-rút lên sức khỏe tim mạch vẫn chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng. Vì thế, Trung tâm Kiểm Soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh Hoa Kỳ đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá nguy cơ biến chứng tim ở người lớn tuổi nhập viện do nhiễm RSV.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 19 tháng 8 năm 2024
|
|
Các thuốc tiêu huyết khối như tenecteplase và alteplase là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho đột quỵ do thiếu máu cục bộ. Reteplase là một chất hoạt hóa plasminogen đã được chấp thuận ở nhiều quốc gia để điều trị nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu do công ty dược phẩm China Resources Angde Biotech Pharma tài trợ đã so sánh hiệu quả của reteplase với alteplase trong việc điều trị đột quỵ do thiếu máu cục bộ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 14 tháng 8 năm 2024
|
|
Trong vòng 4,5 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng đột quỵ thiếu máu cục bộ, các chuyên gia khuyến cáo nên bắt đầu liệu trình tiêu huyết khối bằng thuốc hoạt hóa plasminogen như alteplase và tenecteplase. Tuy nhiên, nhiều trường hợp đột quỵ được nhập viện sau khoảng thời gian này. Các nghiên cứu trước đã cho thấy rằng alteplase có hiệu quả khi dùng trong vòng 9 giờ đầu tiên, nhưng sự hiệu quả của tenecteplase sau 4,5 giờ vẫn chưa được hiểu rõ. Do đó, Quỹ Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của tenecteplase khi dùng trong khoảng từ 4,5 đến 24 giờ sau khi xuất hiện đột quỵ thiếu máu cục bộ.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 7 năm 2024
|
|
Việc gia tăng co bóp tim liên quan đến bệnh cơ tim phì đại có thể cản trở lưu thông máu. Mặc dù can thiệp phẫu thuật có thể giải quyết tình trạng này nhưng nó thường không lý tưởng do tính xâm lấn và khả năng cung cấp hạn chế tại các bệnh viện chuyên khoa. Aficamten, một loại thuốc làm giảm khả năng co bóp của tim bằng cách can thiệp vào cầu nối actin-myosin, là một phương pháp điều trị thay thế tiềm năng. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của aficamten trong việc kiểm soát bệnh cơ tim phì đại.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 6 năm 2024
|
|
Hội chứng chylomicron máu gia đình làm tăng nguy cơ viêm tụy cấp do nồng độ chất béo trung tính cao.Các lipoprotein chylomicron và VLDL chịu trách nhiệm vận chuyển chất béo trung tính và chúng có protein APOC3 để ngăn chặn sự thoái hóa trong cơ thể con người. Olezarsen là một oligonucleotide antisense có thể ức chế sự biểu hiện của APOC3 và thúc đẩy quá trình thanh thải chất béo trung tính. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để kiểm tra tác dụng của Olezarsen đối với nguy cơ viêm tụy ở những bệnh nhân mắc hội chứng chylomicron máu gia đình.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 14 tháng 6 năm 2024
|
|
Statin và các liệu pháp hỗ trợ hạ lipid khác thường được sử dụng để kiểm soát lipoprotein mật độ thấp (LDL-C) mang cholesterol ở bệnh nhi mắc bệnh cholesterol máu gia đình. PSCK9 đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mức LDL-C cao bằng cách phá hủy thụ thể tế bào có chức năng loại bỏ LDL-C ra khỏi máu. Alirocumab là một kháng thể có thể ức chế PSCK9 và một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá khả năng của nó trong việc thúc đẩy thanh thải LDL-C nhằm kiểm soát tình trạng tăng cholesterol máu gia đình dị hợp tử ở trẻ em.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 6 năm 2024
|
|
Chất ức chế trực tiếp có tính chọn lọc cao yếu tố Xa thường được sử dụng để ngăn ngừa huyết khối. Tuy nhiên, thuốc kháng đông máu làm tăng nguy cơ xuất huyết. Nhằm giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một chất đối kháng chất ức chế có thể được sử dụng làm thuốc giải độc. Andexanet alfa là dạng yếu tố Xa không hoạt động có thể liên kết và vô hiệu hóa thuốc chống đông máu. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của andexanet alfa trong việc ngăn ngừa tử vong và giảm tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến xuất huyết nội sọ do thuốc ức chế yếu tố Xa gây ra.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 5 năm 2024
|
|
Tăng triglyceride máu có liên quan đến các hậu quả sức khỏe nghiêm trọng như viêm tụy cấp, và hiện nay các phác đồ điều trị vẫn còn giới hạn. Apoprotein C-III (APOC3) là một chất tự nhiên tăng mức triglyceride trong máu bằng cách ức chế lipoprotein lipase và giải độc gan. Do đó, một nghiên cứu mới đã được tiến hành để đánh giá tác động của Olezarsen - một oligonucleotide có thể trung hòa mRNA APOC3 trong việc quản lý tăng triglyceride máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 5 năm 2024
|
|
Việc sử dụng thuốc beta blocker sau khi bị nhồi máu cơ tim đã được báo cáo làm giảm nguy cơ tử vong đến 20%. Tuy nhiên, khuyến cáo về việc sử dụng thuốc đã được đưa ra trước khi có các biện pháp can thiệp hiện đại. Do đó, theo khuyến nghị của tổ chức Cochrane, Hội đồng Nghiên cứu Thụy Điển đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của thuốc beta blocker và các loại thuốc khác trong việc điều trị liên quan đến sức khỏe tim mạch sau nhồi máu cơ tim.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 17 tháng 5 năm 2024
|
|
Trước đây, người ta đã quan sát thấy rằng điều trị bằng thuốc ức chế natri-glucose cotransporter 2 (SGLT2) giúp cải thiện kết quả tim mạch ở bệnh nhân suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm. Do nguy cơ suy tim tăng cao sau cơn nhồi máu cơ tim, một nghiên cứu đã được bắt đầu để khám phá tiềm năng của empagliflozin như một biện pháp phòng ngừa.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 13 tháng 5 năm 2024
|
|
Sự gia tăng tỷ lệ béo phì song song với sự gia tăng xuất hiện suy tim với phân suất tống máu bảo tồn. Bệnh tiểu đường loại 2 (T2DM) có liên quan chặt chẽ với cả hai tình trạng này và những người mắc bệnh suy tim kèm theo T2DM phải chịu gánh nặng bệnh cao hơn và các bất lợi tim mạch khác. Một nghiên cứu gần đây nhằm đánh giá tiềm năng của Semaglutide, một chất đối kháng thụ thể peptide 1 giống glucagon thường được kê đơn cho bệnh đái tháo đường loại 2, trong điều trị suy tim với phân suất tống máu bảo tồn ở bệnh nhân béo phì.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 1 tháng 5 năm 2024
|
|
Tăng Triglyceride máu nguyên phát liên quan đến việc tăng khả năng phát triển bệnh tim mạch xơ vữa động mạch, gan nhiễm mỡ không do rượu và viêm tụy cấp. Protein APOC3 được biết đến là có vai trò quan trọng trong vấn đề nêu trên vì nó gây ảnh hưởng trong việc cản trở sự phân hủy các lipoprotein và chylomicron giàu chất béo trung tính. Plozasiran - một RNA can thiệp nhỏ nhằm mục tiêu vào và làm suy giảm mRNA mã hóa protein APOC3. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của nó trong việc giải quyết tình trạng tăng triglycerid máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 3 tháng 4 năm 2024
|
|
Sử dụng thuốc tiêu huyết khối như alteplase trong vòng 4,5 giờ sau cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ hiện là liệu trình điều trị tiêu chuẩn. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến nghị sử dụng tenecteplase - một loại alteplase với mục đích tiêu huyết khối. Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng thuốc tiêu huyết khối sau 4,5 giờ kể từ khi khởi phát bệnh vẫn chưa được hiểu rõ. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của việc can thiệp chậm trễ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 8 tháng 3 năm 2024
|
|
Huyết áp cao khi mang thai gây nguy hiểm cho sức khỏe của cả mẹ và thai nhi. Từ năm 2011, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo bổ sung canxi từ 1500 mg đến 2000 mg để giảm nguy cơ tiền sản giật. Tuy nhiên, liều lượng cao gây ra những hạn chế về chi phí và thách thức đối với việc tuân thủ điều trị, đặc biệt ở những nơi có nguồn lực hạn chế. Do đó, Quỹ Bill và Melinda Gates đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của việc giảm liều canxi trong việc ngăn ngừa tăng huyết áp khi mang thai.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2024
|
|
Transthyretin (TTR) là một hormone vận chuyển quan trọng có chức năng sắp xếp tetramer. Đột biến có thể dẫn đến sự phân ly monome từ tetramer, dẫn đến sự lắng đọng của nó trong cơ tim và gây ra bệnh cơ tim amyloid transthyretin. Một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả của Acoramidis, một chất ổn định TTR có ái lực gắn kết cao, trong điều trị bệnh cơ tim amyloid transthyretin.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 3 năm 2024
|
|
Do lưu lượng máu lưu thông không đều ở những bệnh nhân bị rung tâm nhĩ (AFib), nên nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ tăng cao. Do đó, các bệnh nhân bị AFib thường được dùng thuốc ức chế Vitamin K và thuốc chống đông máu để giảm nguy cơ đông máu. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng Apixaban hiệu quả hơn Aspirin trong việc giảm tỷ lệ tắc mạch phổi và đột quỵ và không tăng nguy cơ xuất huyết. Do đó, Viện Nghiên cứu Y tế Canada đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá khả năng dùng Apixaban trong việc kiểm soát nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân rung nhĩ.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 16 tháng 2 năm 2024
|
|
Sau cơn đột quỵ thiếu máu cục bộ thoáng qua, 10% bệnh nhân bị đột quỵ tái phát trong vòng 90 ngày. Aspirin, được biết đến với đặc tính kháng tiểu cầu và là một liệu pháp quản lý phổ biến. Để hiểu biết hơn về những lợi ích tổng hợp tiềm năng của Aspirin, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá độ hiệu quả của liệu pháp kép với aspirin và clopidogrel.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 29 tháng 1 năm 2024
|
|
Semaglutide là một peptide giống glucagon 1 (GLP-1) và thường được sử dụng trong việc điều trị bệnh tiểu đường nhờ khả năng kích thích sản xuất insulin. Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc sử dụng GLP-1 làm giảm khả năng xảy ra các biến cố tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí Y học New England nhằm đánh giá xem liệu tác dụng bảo vệ của Semaglutide ở bệnh nhân tiểu đường có mở rộng đến những người thừa cân và béo phì không mắc bệnh tiểu đường hay không.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 17 tháng 11 năm 2023
|
|
Bệnh amyloidosis transthyretin gây ra bởi trong quá trình gấp TTR protein xảy ra lỗi. Bệnh amyloidosis transthyretin có khả năng dẫn đến tử vong vì liên quan đến bệnh cơ tim và dẫn đến thời gian sống sót trung bình từ 2 đến 6 năm. Patisiran, một tác nhân can thiệp RNA, có khả năng bám vào protein TTR và hủy chuỗi protein TTR. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm tìm hiểu thêm về tác động trong điều trị của Patisiran đối với bệnh amyloidosis transthyretin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 13 tháng 11 năm 2023
|
|
Nhiễm SARS-CoV-2 trầm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng viêm hô hấp cấp độ nặng; những trường hợp không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong. Simvastatin là một loại thuốc hạ lipid máu có tác dụng chống viêm và đã được chứng minh là có lợi cho những bệnh nhân bị hội chứng suy hô hấp cấp tính kèm theo tình trạng viêm cấp độ nặng. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi: Liệu simvastatin có thể hữu ích trong điều trị COVID-19 hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 3 tháng 11 năm 2023
|
|
Nhồi máu cơ tim có thể gây chết tế bào tim, và đồng thời cản trở quá trình lưu thông máu huyết. Rối loạn chức năng tim này được gọi là suy tim và sự gián đoạn dẫn truyền điện bình thường có thể dẫn đến rung tâm nhĩ. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu việc loại bỏ mô chết bằng cắt bỏ qua ống thông có thể giúp cải thiện kết quả lâm sàng của bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối và rung nhĩ hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 18 tháng 10 năm 2023
|
|
Thuốc chống đông máu bằng đường uống thường được sử dụng để kiểm soát đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân mắc bệnh rung tâm nhĩ ở tim mạch (Tiếng anh: Atrial high-rate episodes (AHREs). Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào chứng minh độ hiệu quả của vệc sử dụng thuốc đông máu ở các bệnh nhân được chuẩn đoán mắc bệnh rung tâm nhĩ (AHREs). Để giải quyết vấn đề này, Trung tâm Nghiên cứu Tim mạch Đức đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm điều tra những lợi ích tiềm tàng của edoxaban ở những bệnh nhân mắc AHRE.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 06 tháng 10 năm 2023
|
|
Bệnh béo phì là một yếu tố góp phần vào sự khởi phát và tiến triển của bệnh suy tim. Căn bệnh này có thể làm trầm trọng hơn các triệu chứng cũng như giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Ban đầu, Semaglutide là một loại thuốc được phê duyệt để kiểm soát bệnh tiểu đường có tác dụng giảm cân đáng kể. Ngoài ra, Semaglutide còn là đối tượng của một nghiên cứu nhằm trả lời cho câu hỏi: Liệu Semaglutide có thể cải thiện kết quả lâm sàng cho bệnh nhân béo phì bị suy tim hay không?
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 02 tháng 10 năm 2023
|
|
Các bài nghiên cứu trước đây đã tìm thấy rằng có một mối liên hệ giữa suy tim và thiếu sắt và điều đó có thể làm xấu đi tiên lượng của bệnh nhân. Do đó, những nỗ lực đã được thực hiện để am hiểu hơn về cơ chế cơ bản của kết nối này. Tuy nhiên, vẫn còn có sự đồng thuận hạn chế về lợi ích thực tế của việc bổ sung sắt. Vì vậy, một nghiên cứu đã được thực hiện để làm sáng tỏ hơn về tác động của việc bổ sung sắt carboxymaltose đối với sức khỏe của những người bệnh nhân suy tim.
|
|
Được tóm tắt bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A
Được phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM |
Đăng vào ngày 22 tháng 9 năm 2023
|
|
Pitavastatin được sử dụng để giảm lượng cholesterol và triglycerides trong máu. Vì thế, thuốc có ảnh hưởng tích cực lên sức khỏe tim mạch bằng việc gia tăng cholesterol HDL. Các bệnh nhân bị nhiễm HIV có khả năng bị các hội chứng tim mạch cao hơn thường, nhưng quá trình tương tác giữa 2 yếu tố. Vì thế một nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự hiệu quả của pitavastatin trong việc ngăn ngừa các hội chứng tim mạch ở các bệnh nhân HIV dương tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 4 tháng 9 năm 2023
|
|
Protein transthyretin được dùng để vận chuyển thyroxine và retinol tới gan qua đường máu và dịch não tủy. Nhưng, khi protein bị lỗi, transthyretin có thể bị ứ ở tế bào cơ tim và dẫn đến đông cứng. Khi lượng transthyretin gia tăng, bệnh amyloidosis có thể giảm khả năng hoạt động tâm trương và dẫn đến rối loạn nhịp tim và ảnh hưởng đến chức năng tâm thu. Hiện tại, Tafamidis là loại thuốc duy nhất được cho phép điều trị transthyretin amyloidosis. Tafamidis có hiệu quả trong việc giảm triệu chứng nhưng không giúp ngăn bệnh. Một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra khả năng điều trị transthyretin amyloidosis của loại thuốc mới mang tên NI006.
|
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 8 năm 2023
|
|
Angiotensinogen là một hợp chất quan trọng trong quá trình gây bệnh cao huyết áp bởi vì nó có thể được chuyển hóa thành angiotensin. Zilebesiran là một dược phẩm mới có khả năng bám vào thụ thể asialoglycoprotein và ức chế quá trình hình thành angiotensinogen trong gan. Một nghiên cứu được tài trợ bởi công ty dược phẩm Alnylam đã điều tra sự hiệu quả và tính an toàn của Zilebesiran trong việc chữa trị bệnh cao huyết áp.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 14 tháng 8 năm 2023
|
|
Sau khi xảy ra tai nạn chấn thương, mất máu quá nhiều có thể dẫn đến tổn thương mô và sốc giảm thể tích máu. Nếu sự mất máu này được ngăn chặn trước khi nhập viện, nó có thể làm giảm nguy cơ tử vong. Axit tranexamic là một chất chống tiêu sợi huyết đã được sử dụng rộng rãi để kiểm soát xuất huyết. Một nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng của việc sử dụng axit tranexamic trước khi nhập viện trong việc ngăn ngừa tử vong sau tai nạn chấn thương.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 26 tháng 7 năm 2023
|
|
Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh được việc sử dụng thuốc chống đông máu giảm khả năng bị đột quỵ cục bộ và bệnh tổn ngoại vi hệ thống ở những bệnh nhân mắc bệnh rung nhĩ. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra sự thiếu nhất quán về thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc chống đông. Việc sử dụng muộn có thể làm tăng nguy cơ bị đột quỵ cục bộ; mặc khác, việc sử dụng quá sớm lại làm tăng nguy cơ xuất huyết. Do đó, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh hiệu quả và tính an toàn về thời điểm bắt đầu sử dụng thuốc chống đông.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, B.A |
Đăng vào ngày 17 tháng 7 năm 2023
|
|
Trong những thập kỷ qua, tỷ lệ tụ máu dưới màng cứng mạn tính ngày càng gia tăng ở nhiều quốc gia phát triển. Điều này có thể được giải thích là do sự già hóa của dân số và việc sử dụng thuốc chống đông máu để điều trị các bệnh tim mạch. Cần mở hộp sọ lỗ khoan để dẫn lưu khối máu tụ; đây là một thủ tục hiệu quả nhưng có nguy cơ tử vong cao hơn. Người ta đưa ra giả thuyết rằng phản ứng viêm khiến tình trạng của khối máu đông trầm trọng hơn bằng cách tích tụ chất lỏng và tăng tỷ lệ đông máu. Do đó, một nghiên cứu đã được thực hiện để điều tra khả năng sử dụng dexamethasone trong điều trị tụ máu dưới màng cứng mãn tính.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 17 tháng 5 năm 2023
|
|
Sự phát triển quá mức của cơ và tế bào quanh động mạch phổi có thể làm hẹp đường kính và gia tăng huyết áp. Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện rằng yếu tố tăng trưởng biến đổi β (TGF-β) đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển này. Sotatercept là một protein kết hợp bào gồm phần liên kết của receptor ActRIIA có thể gắn kết với TGF-β. Do đó, công ty dược phẩm MSD đã tài trợ một nghiên cứu nhằm khám phá tác động của Sotatercept trong việc điều trị tăng huyết áp động mạch phổi.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 1 tháng 5 năm 2023
|
|
Statin được kích hoạt bởi các mô ngoại vi nên việc tận dụng statin liên quan đến nhiều tác dụng phụ đối với cơ vân (cơ vận động). Bempedoic acid được chuyển hóa trong gan; do đó, hoạt chất đem lại ít tác động tiêu cực hơn. Vì vậy, Esperion Therapeutics đã tài trợ một nghiên cứu nhằm điều tra hiệu quả của bempedoic acid trong việc kiểm soát tăng cholesterol máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
Được phiên dịch bởi Lê Đức Thiên Ân |
Đăng vào ngày 24 tháng 4 năm 2023
|
|
Aldosterone có khả năng tăng cường sự tái hấp thụ natri và giữ nước, do đó gián tiếp gia tăng nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp. Vì vậy, aldosterone synthase được coi là một mục tiêu dược học hiệu quả trong quản lý tình trạng này. CinCor Pharma đã tài trợ một nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của baxdrostat, một chất ức chế aldosterone synthase có tính chọn lọc cao, trong việc kiểm soát cao huyết áp.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 7 tháng 12 năm 2022
|
|
Metformin được khuyến cáo sử dụng để điều trị tiểu đường bởi đa phần các phác đồ, bao gồm phác đồ của tổ chức y tế thế giới (WHO). Tại Hoa Kỳ, cục quản lý thực phẩm và dược phẩm khuyến cáo sử dụng empagliflozin, một thuốc ức chế thụ thể vận chuyển đường và natri số 2, sodium-glucose cotransporter 2 inhibitor (SGLT2i), vì lợi ích của thuốc lên hệ tim mạch. Một nghiên cứu được xuất bản gần đây đã so sánh lợi ích sức khỏe giữa metformin và empagliflozin.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 30 tháng 11 năm 2022
|
|
Các nghiên cứu trước đã báo cáo rằng lượng lipoprotein(a) - LP(a) - cao dẫn đến các bệnh như xơ vữa động mạch và hẹp van động mạch. Nhưng hiện tại vẫn chưa có phương pháp chữa trị nào được cho phép sử dụng. Nồng độ LP(a) phụ thuộc vào việc giải trình gene LPA, vì thế Olpasiran, một RNA có khả năng kìm hãm quá trình phiên mã (transcription) gene LPA, có thể được sử dụng để chữa trị. Một nghiên cứu gần đây đã công bố kết quả về việc điều tra tính hiệu quả của Olpasiran trong việc giảm lượng LP(a) trong máu.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 25 tháng 11 năm 2022
|
|
Lượng triglyceride trong máu cao gia tăng nguy cơ các biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não. Nhưng, chúng ta vẫn chưa rõ nếu việc giảm nồng độ triglyceride có thể cải thiện sức khỏe tim mạch của bệnh nhân. Một nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học New England Journal of Medicine báo cáo về sự ảnh hưởng của việc giảm lượng triglyceride trong máu lên rủi ro của các biến chứng tim mạch.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 9 tháng 11 năm 2022
|
|
Lượng magnesium và potassium thấp trong cơ thể có thể gia tăng lượng calcium và kéo dài thế động tác (action potential); điều này dẫn tới sự kích hoạt afterdepolarization quá sớm. Các nghiên cứu trước báo cáo rằng điều này có thể dẫn tới tình trạng rung nhĩ (AF). Vì thế việc bổ sung magnesium và potassium có thể giải quyết sự mất cân bằng điện giải và ngăn ngừa AF. Nhưng hiện tại không có khuyến cáo về việc sử dụng phương pháp điều trị này. Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo về việc điều trị rung nhĩ và cuồng động tâm nhĩ bằng potassium và magnesium.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 14 tháng 10 năm 2022
|
|
Acetazolamide có khả năng ức chế enzyme carbonic anhydrase trên ống lượn gần ở thận để tăng sự hấp thu natri. Vì thế, thuốc tăng tính lợi tiểu và giảm sự trữ nước trong cơ thể. Một nghiên cứu xuất bản trên tạp chí y học New England Journal of Medicine đã công bố sự hiệu quả của acetazolamide trong việc điều trị bệnh nhân bị suy tim và trữ nước.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 21 tháng 9 năm 2022
|
|
Thuốc ức chế Vitamin K thường được sử dụng để ngăn ngừa đột quỵ ở các bệnh nhân mắc bệnh rung nhĩ; nhưng, bệnh nhân thường phải được thử máu để điều chỉnh liều. Các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy thuốc ức chế factor Xa như rivaroxaban có thể ngăn ngừa, nhưng chúng ta không biết sự hiệu quả của thuốc ở các bệnh nhân mắc bệnh thấp tim và rung nhĩ. Một nghiên cứu gần đây đã báo cáo kết quả tìm thấy từ sự so sánh giữa hai loại thuốc.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 24 tháng 8 năm 2022
|
|
Dựa vào cơ sở dữ liệu giám sát an toàn dược phẩm VigiBase được lập ra bởi tổ chức y tế thế giới (WHO), nhồi máu cơ tim, thuyên tắc động mạch phổi và đột quỵ thường được báo cáo sau khi tiêm vaccine phòng ngừa COVID-19. Sử dụng thông tin từ hệ thống dữ liệu y tế quốc gia của Pháp, một bài nghiên cứu được xuất bản trên tạp chí y học nội khoa Annals of Internal Medicine báo cáo về mối quan hệ giữa vaccine COVID-19 và những biến chứng tim mạch nghiêm trọng.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 19 tháng 8 năm 2022
|
|
Mặc dù SARS-CoV-2 đã được loại trừ, các chức năng tiêu hóa, thần kinh và nội tiết vẫn còn bị ảnh hưởng. Bởi vì cơ thể phải trải qua một tình trạng sưng viêm kéo dài, các quá trình hoạt động bị ảnh hưởng. Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí y học Journal of American Medical Association báo cáo rằng các bệnh nhân đã hồi phục sau COVID-19 bị gia tăng nguy cơ hình thành huyết khối ở tĩnh mạch.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 15 tháng 8 năm 2022
|
|
Ezetimibe là một loại thuốc làm giảm cholesterol bằng cách ngăn chặn quá trình hấp thu ở ruột non. Một nghiên cứu gần đây công bố rằng việc kết hợp sử dụng ezetimibe và rosuvastatin liều trung bình có khả năng phòng ngừa bệnh tim mạch tương đương với rosuvastatin liều cao và có ít tỉ lệ ngưng sử dụng thuốc hơn.
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 27 tháng 7 năm 2022
|
|
Nurse Health Study là một nghiên cứu theo chiều dọc lớn được tài trợ bởi Viện Y Học Quốc Gia Hoa Kỳ. Dự án nghiên cứu đa thập kỷ này đã cung cấp nhiều kiến thức dịch tễ học quan trọng về vấn đề sức khỏe phụ nữ. Gần đây dự án có công bố kết quả trên tạp chí y học của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ rằng phụ nữ với tiền sử lạc nội mạc tử cung có tăng nguy cơ đột quỵ...
|
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, B.A, ScM.
|
Đăng vào ngày 22 tháng 7 năm 2022
|
|
Rosuvastatin and Atorvastatin là 2 loại thuốc mang tính chất ức chế enzyme HMG-CoA reductase. Thuốc thường được kê toa để chữa trị bệnh tăng lipid máu, bệnh tăng cholesterol máu và dùng để phòng ngừa các bệnh tim mạch. Một nghiên cứu đa trung tâm của tiến sĩ, bác sĩ Jung-Im Shin và đồng nghiệp báo cáo rằng Rosuvastatin có ảnh hưởng lớn đến chứng năng thận hơn Atorvastatin ...
|