Sử Dụng Ensartinib Để Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ ALK Dương Tính Đã Được Phẫu Thuật Cắt Bỏ
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 29 tháng 7 năm 2026
|
Đột biến gen ALK thường xảy ra ở bệnh nhân mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ và gia tăng nguy cơ di căn đến hệ thần kinh trung ương. Điều trị bổ trợ bằng thuốc ức chế ALK như alectinib đã được chứng minh là cải thiện thời gian sống không bệnh sau phẫu thuật. Ensartinib là thuốc ức chế ALK thế hệ thứ hai được phát triển để ức chế mạnh mẽ và bền vững tín hiệu ALK. Một nghiên cứu gần đây đã đánh giá hiệu quả của nó như liệu pháp bổ trợ ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ dương tính với ALK đã được phẫu thuật cắt bỏ.
Xuất Bản: Tạp Chí Y Học New England
Nguồn Tài Trợ: Betta Pharmaceuticals
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Trung Quốc và tuyển chọn 274 người tham gia với độ tuổi trung bình là 55 tuổi, những người đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn NSCLC dương tính với ALK. Hơn 90% bệnh nhân đã được cắt thùy phổi. Khi tham gia, 41% mắc bệnh giai đoạn III, 34% mắc bệnh giai đoạn II và 25% còn lại mắc bệnh giai đoạn IB. Khoảng 70% người tham gia nghiên cứu cũng đã được điều trị hóa trị bổ trợ trước khi bắt đầu nghiên cứu. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để nhận giả dược hoặc ensartinib đường uống với liều 225 mg mỗi ngày một lần.
Sau 24 tháng theo dõi, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ensartinib làm giảm 80% nguy cơ tái phát bệnh hoặc tử vong so với giả dược. Phân tích nhóm phụ cho thấy lợi ích lớn nhất được quan sát thấy ở những bệnh nhân dưới 65 tuổi, những người mắc bệnh giai đoạn II hoặc III, và những người đã từng được điều trị hóa trị bổ trợ trước đó. Ensartinib cũng làm giảm đáng kể tỷ lệ di căn hệ thần kinh trung ương, một vị trí tái phát phổ biến ở bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ ALK dương tính.
Phân tích an toàn cho thấy bệnh nhân được điều trị bằng ensartinib có tỷ lệ phát ban, phù nề, táo bón và các tác dụng phụ liên quan đến điều trị khác cao hơn so với những người dùng giả dược. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng quần thể nghiên cứu chỉ bao gồm những người tham gia người Trung Quốc, điều này có thể hạn chế khả năng khái quát hóa các phát hiện cho các nhóm dân tộc khác. Họ cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải theo dõi lâu dài hơn để xác định liệu sự cải thiện về thời gian sống không bệnh có dẫn đến lợi ích về thời gian sống tổng thể hay không và để đánh giá tốt hơn hiệu quả của ensartinib ở những bệnh nhân mắc bệnh giai đoạn IB.
Xuất Bản: Tạp Chí Y Học New England
Nguồn Tài Trợ: Betta Pharmaceuticals
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Trung Quốc và tuyển chọn 274 người tham gia với độ tuổi trung bình là 55 tuổi, những người đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn NSCLC dương tính với ALK. Hơn 90% bệnh nhân đã được cắt thùy phổi. Khi tham gia, 41% mắc bệnh giai đoạn III, 34% mắc bệnh giai đoạn II và 25% còn lại mắc bệnh giai đoạn IB. Khoảng 70% người tham gia nghiên cứu cũng đã được điều trị hóa trị bổ trợ trước khi bắt đầu nghiên cứu. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để nhận giả dược hoặc ensartinib đường uống với liều 225 mg mỗi ngày một lần.
Sau 24 tháng theo dõi, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng ensartinib làm giảm 80% nguy cơ tái phát bệnh hoặc tử vong so với giả dược. Phân tích nhóm phụ cho thấy lợi ích lớn nhất được quan sát thấy ở những bệnh nhân dưới 65 tuổi, những người mắc bệnh giai đoạn II hoặc III, và những người đã từng được điều trị hóa trị bổ trợ trước đó. Ensartinib cũng làm giảm đáng kể tỷ lệ di căn hệ thần kinh trung ương, một vị trí tái phát phổ biến ở bệnh ung thư phổi không tế bào nhỏ ALK dương tính.
Phân tích an toàn cho thấy bệnh nhân được điều trị bằng ensartinib có tỷ lệ phát ban, phù nề, táo bón và các tác dụng phụ liên quan đến điều trị khác cao hơn so với những người dùng giả dược. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng quần thể nghiên cứu chỉ bao gồm những người tham gia người Trung Quốc, điều này có thể hạn chế khả năng khái quát hóa các phát hiện cho các nhóm dân tộc khác. Họ cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải theo dõi lâu dài hơn để xác định liệu sự cải thiện về thời gian sống không bệnh có dẫn đến lợi ích về thời gian sống tổng thể hay không và để đánh giá tốt hơn hiệu quả của ensartinib ở những bệnh nhân mắc bệnh giai đoạn IB.