Phối Hợp Belzutifan với Pembrolizumab Trong Điều Trị Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Thận Đã Phẫu Thuật Cắt Bỏ
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 20 tháng 7 năm 2026
|
Pembrolizumab, một chất ức chế protein chết tế bào theo chương trình 1 (PD-1), là liệu pháp hỗ trợ đã được chứng minh hiệu quả cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận nguy cơ cao sau phẫu thuật cắt bỏ thận. Bằng cách ngăn chặn con đường PD-1, pembrolizumab khôi phục hoạt động miễn dịch chống khối u và giảm nguy cơ tái phát bệnh. Tuy nhiên, bất chấp phương pháp điều trị này, khoảng 40% bệnh nhân vẫn bị tái phát bệnh trong vòng 5 năm sau phẫu thuật. Để cải thiện hơn nữa kết quả điều trị, một nghiên cứu gần đây đã đánh giá việc bổ sung belzutifan vào liệu pháp hỗ trợ pembrolizumab.
Xuất Bản: New England Journal of Medicine
Nguồn Tài Trợ: Merck
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 1.841 người tham gia với độ tuổi trung bình khoảng 60 tuổi, những người đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn ung thư biểu mô tế bào thận. Khoảng 10% bệnh nhân được cắt bỏ một phần thận, trong khi số còn lại được cắt bỏ toàn bộ thận. Phân tích mô bệnh học cho thấy 27% khối u thuộc độ 4, trong khi khoảng 35% thuộc độ 3 và 35% khác thuộc độ 2. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để nhận giả dược hoặc belzutifan đường uống với liều 120 mg mỗi ngày. Tất cả bệnh nhân cũng được truyền tĩnh mạch pembrolizumab với liều 400 mg mỗi sáu tuần.
Belzutifan là chất ức chế yếu tố gây cảm ứng thiếu oxy-2α (HIF-2α) giúp ức chế sự phát triển của khối u bằng cách ngăn chặn các con đường liên quan đến sự thích nghi của tế bào với tình trạng thiếu oxy, sự hình thành mạch máu và sự tăng sinh tế bào ung thư. Việc kết hợp belzutifan với pembrolizumab được giả thuyết là sẽ mang lại hoạt động chống ung thư bổ sung thông qua cả việc kích hoạt miễn dịch và ức chế tín hiệu HIF-2α.
Sau thời gian theo dõi trung bình 28,4 tháng, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc bổ sung belzutifan làm giảm nguy cơ tái phát bệnh hoặc tử vong đến 28% so với chỉ dùng pembrolizumab. Tuy nhiên, điều trị bằng belzutifan có liên quan đến tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, đặc biệt là thiếu máu và tăng nồng độ alanine aminotransferase. Những phát hiện này cho thấy việc kết hợp ức chế HIF-2α với phong tỏa điểm kiểm soát miễn dịch có thể cải thiện hơn nữa kết quả điều trị ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận đã phẫu thuật cắt bỏ, mặc dù việc theo dõi cẩn thận các độc tính liên quan đến điều trị vẫn rất quan trọng.
Xuất Bản: New England Journal of Medicine
Nguồn Tài Trợ: Merck
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 1.841 người tham gia với độ tuổi trung bình khoảng 60 tuổi, những người đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn ung thư biểu mô tế bào thận. Khoảng 10% bệnh nhân được cắt bỏ một phần thận, trong khi số còn lại được cắt bỏ toàn bộ thận. Phân tích mô bệnh học cho thấy 27% khối u thuộc độ 4, trong khi khoảng 35% thuộc độ 3 và 35% khác thuộc độ 2. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để nhận giả dược hoặc belzutifan đường uống với liều 120 mg mỗi ngày. Tất cả bệnh nhân cũng được truyền tĩnh mạch pembrolizumab với liều 400 mg mỗi sáu tuần.
Belzutifan là chất ức chế yếu tố gây cảm ứng thiếu oxy-2α (HIF-2α) giúp ức chế sự phát triển của khối u bằng cách ngăn chặn các con đường liên quan đến sự thích nghi của tế bào với tình trạng thiếu oxy, sự hình thành mạch máu và sự tăng sinh tế bào ung thư. Việc kết hợp belzutifan với pembrolizumab được giả thuyết là sẽ mang lại hoạt động chống ung thư bổ sung thông qua cả việc kích hoạt miễn dịch và ức chế tín hiệu HIF-2α.
Sau thời gian theo dõi trung bình 28,4 tháng, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng việc bổ sung belzutifan làm giảm nguy cơ tái phát bệnh hoặc tử vong đến 28% so với chỉ dùng pembrolizumab. Tuy nhiên, điều trị bằng belzutifan có liên quan đến tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, đặc biệt là thiếu máu và tăng nồng độ alanine aminotransferase. Những phát hiện này cho thấy việc kết hợp ức chế HIF-2α với phong tỏa điểm kiểm soát miễn dịch có thể cải thiện hơn nữa kết quả điều trị ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận đã phẫu thuật cắt bỏ, mặc dù việc theo dõi cẩn thận các độc tính liên quan đến điều trị vẫn rất quan trọng.