So Sánh Voriconazole và Itraconazole Trong Việc Điều Trị Bệnh Nhiễm Nấm Phổi Aspergillus Mãn Tính.
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 10 tháng 4 năm 2026
|
Viêm phổi mãn tính do nấm Aspergillus fumigatus gây ra gánh nặng lớn ở các quốc gia nhiệt đới đang phát triển như Việt Nam và Ấn Độ. Tình trạng này có thể điều trị được bằng phác đồ 6 đến 12 tháng sử dụng thuốc kháng nấm azole đường uống. Voriconazole được thường dùng do sinh khả dụng cao, nhưng itraconazole cũng là một lựa chọn khả thi do giá cả phải chăng và độ an toàn tốt hơn. Để hiểu rõ hơn về lựa chọn điều trị tối ưu, một nghiên cứu đã được tiến hành để so sánh voriconazole với itraconazole trong việc điều trị bệnh aspergillosis phổi mạn tính.
Nguồn Tài Trợ: Cipla Pharmaceuticals, Ấn Độ
Nghiên cứu lâm sàng được tiến hành tại Ấn Độ, bao gồm 116 người tham gia, độ tuổi trung bình là 46, được chẩn đoán mắc bệnh nhiễm nấm Aspergillus phổi mạn tính thể hang hoặc aspergillosis phổi mạn tính thể xơ hóa. Những bệnh nhân này có một hoặc nhiều triệu chứng như ho dai dẳng, ho ra máu tái phát, sụt cân, mệt mỏi, sốt hoặc khó thở kéo dài ít nhất 3 tháng. Chụp CT ngực được thực hiện và phát hiện bệnh nhân có khoảng 2 đến 3 hang phổi; tất cả đều bị dày màng phổi, và khối nấm được phát hiện ở khoảng ba phần tư số bệnh nhân. Phân tích kháng thể huyết thanh cho thấy bệnh nhân có khoảng 90 mgA/L kháng thể IgG nhắm vào Aspergillus fumigatus.
Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng itraconazole đường uống hoặc voriconazole đường uống trong 6 tháng; cả hai đều được dùng hai lần một ngày với liều 200 mg. Sau 6 tháng điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy cả voriconazole và itraconazole đều có hiệu quả tương đương trong việc giảm các triệu chứng và cải thiện kết quả CT ngực ở bệnh nhân mắc bệnh nấm phổi Aspergillus mạn tính. Theo dõi sau 12 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị cho thấy tỷ lệ tái phát bệnh tương tự nhau giữa hai nhóm, khoảng 20%. Tuy nhiên, việc sử dụng voriconazole có liên quan đến tần suất cao hơn của tình trạng tăng men gan, viêm niêm mạc và tăng sắc tố da. Nguy cơ gia tăng các tác dụng phụ sau khi sử dụng voriconazole này phù hợp với các phát hiện trước đó. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng itraconazole nên được sử dụng làm liệu pháp điều trị đầu tiên do chi phí thấp hơn và khả năng dung nạp tốt hơn, còn voriconazole nên được sử dụng làm liệu pháp điều trị thứ hai.
Nguồn Tài Trợ: Cipla Pharmaceuticals, Ấn Độ
Nghiên cứu lâm sàng được tiến hành tại Ấn Độ, bao gồm 116 người tham gia, độ tuổi trung bình là 46, được chẩn đoán mắc bệnh nhiễm nấm Aspergillus phổi mạn tính thể hang hoặc aspergillosis phổi mạn tính thể xơ hóa. Những bệnh nhân này có một hoặc nhiều triệu chứng như ho dai dẳng, ho ra máu tái phát, sụt cân, mệt mỏi, sốt hoặc khó thở kéo dài ít nhất 3 tháng. Chụp CT ngực được thực hiện và phát hiện bệnh nhân có khoảng 2 đến 3 hang phổi; tất cả đều bị dày màng phổi, và khối nấm được phát hiện ở khoảng ba phần tư số bệnh nhân. Phân tích kháng thể huyết thanh cho thấy bệnh nhân có khoảng 90 mgA/L kháng thể IgG nhắm vào Aspergillus fumigatus.
Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng itraconazole đường uống hoặc voriconazole đường uống trong 6 tháng; cả hai đều được dùng hai lần một ngày với liều 200 mg. Sau 6 tháng điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy cả voriconazole và itraconazole đều có hiệu quả tương đương trong việc giảm các triệu chứng và cải thiện kết quả CT ngực ở bệnh nhân mắc bệnh nấm phổi Aspergillus mạn tính. Theo dõi sau 12 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị cho thấy tỷ lệ tái phát bệnh tương tự nhau giữa hai nhóm, khoảng 20%. Tuy nhiên, việc sử dụng voriconazole có liên quan đến tần suất cao hơn của tình trạng tăng men gan, viêm niêm mạc và tăng sắc tố da. Nguy cơ gia tăng các tác dụng phụ sau khi sử dụng voriconazole này phù hợp với các phát hiện trước đó. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng itraconazole nên được sử dụng làm liệu pháp điều trị đầu tiên do chi phí thấp hơn và khả năng dung nạp tốt hơn, còn voriconazole nên được sử dụng làm liệu pháp điều trị thứ hai.