Bổ Sung Vitamin D3 & Canxi Cacbonat Để Cải Thiện Sự Phát Triển Mật Độ Xương Ở Thanh Thiếu Niên Nhiễm HIV
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 4 năm 2026
|
Với việc áp dụng rộng rãi liệu pháp kháng retrovirus ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong ở thanh thiếu niên do nhiễm HIV đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, thanh thiếu niên nhiễm HIV vẫn gặp phải tình trạng ức chế nghiêm trọng sự phát triển hệ xương khớp. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên tạp chí Lancet đã xem xét việc sử dụng canxi cacbonat và vitamin D bổ sung để tăng cường sức khỏe xương ở thanh thiếu niên sống chung với HIV.
Nguồn Tài Trợ: Tổ Chức Hợp Tác Thử Nghiệm Lâm Sàng Các Nước Đang Phát Triển
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Zambia và Zimbabwe, bao gồm 842 người tham gia với độ tuổi trung bình là 15 tuổi, bị nhiễm HIV truyền từ mẹ sang con. Tất cả những người tham gia đều được điều trị bằng một số hình thức liệu pháp kháng retrovirus, trong đó liệu pháp dựa trên dolutegavir được sử dụng phổ biến nhất bởi khoảng 80% bệnh nhân. Liệu pháp dựa trên chất ức chế protease và NNRTI được sử dụng ít phổ biến hơn, chỉ khoảng 10% số người tham gia được sử dụng. Các phương pháp điều trị này có hiệu quả vì các bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 trung bình khoảng 568 tế bào trên mỗi milimét khối, và khoảng hai phần ba số bệnh nhân có ít hơn 60 bản sao virus HIV trên mỗi mL máu.
Đánh giá mật độ xương của người tham gia bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép cho thấy điểm Z TBLH-BMD trung bình ban đầu, so sánh mật độ khoáng xương toàn thân - không bao gồm đầu - với dân số trung bình, là khoảng -1,64. Phương pháp tương tự được sử dụng để xác định điểm Z mật độ khoáng xương cột sống thắt lưng (LS-BMAD) là khoảng -0,78. Đánh giá thể chất cho thấy sức nắm tối đa là 29 kg, và khoảng cách nhảy tối đa là khoảng 146 cm.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc kết hợp vitamin D3 đường uống và canxi cacbonat. Vitamin D3 được dùng hàng tuần với liều 20.000 IU, và canxi cacbonat được dùng hàng ngày với liều 500 mg. Sau 48 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể về mật độ khoáng xương hoặc khả năng thể chất giữa các bệnh nhân được bổ sung vitamin D3 cộng với canxi cacbonat và các bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. Sự thiếu khác biệt này nhất quán bất kể giới tính, nồng độ 25(OH)D ban đầu hoặc lượng canxi hấp thụ qua chế độ ăn uống của người tham gia. Vì sự phát triển xương là một quá trình lâu dài diễn ra từ 11 đến 19 tuổi, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng việc bổ sung lâu dài có thể dẫn đến sự gia tăng tích lũy về xương để cải thiện khối lượng xương tối đa.
Nguồn Tài Trợ: Tổ Chức Hợp Tác Thử Nghiệm Lâm Sàng Các Nước Đang Phát Triển
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Zambia và Zimbabwe, bao gồm 842 người tham gia với độ tuổi trung bình là 15 tuổi, bị nhiễm HIV truyền từ mẹ sang con. Tất cả những người tham gia đều được điều trị bằng một số hình thức liệu pháp kháng retrovirus, trong đó liệu pháp dựa trên dolutegavir được sử dụng phổ biến nhất bởi khoảng 80% bệnh nhân. Liệu pháp dựa trên chất ức chế protease và NNRTI được sử dụng ít phổ biến hơn, chỉ khoảng 10% số người tham gia được sử dụng. Các phương pháp điều trị này có hiệu quả vì các bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 trung bình khoảng 568 tế bào trên mỗi milimét khối, và khoảng hai phần ba số bệnh nhân có ít hơn 60 bản sao virus HIV trên mỗi mL máu.
Đánh giá mật độ xương của người tham gia bằng phương pháp đo hấp thụ tia X năng lượng kép cho thấy điểm Z TBLH-BMD trung bình ban đầu, so sánh mật độ khoáng xương toàn thân - không bao gồm đầu - với dân số trung bình, là khoảng -1,64. Phương pháp tương tự được sử dụng để xác định điểm Z mật độ khoáng xương cột sống thắt lưng (LS-BMAD) là khoảng -0,78. Đánh giá thể chất cho thấy sức nắm tối đa là 29 kg, và khoảng cách nhảy tối đa là khoảng 146 cm.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc kết hợp vitamin D3 đường uống và canxi cacbonat. Vitamin D3 được dùng hàng tuần với liều 20.000 IU, và canxi cacbonat được dùng hàng ngày với liều 500 mg. Sau 48 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể về mật độ khoáng xương hoặc khả năng thể chất giữa các bệnh nhân được bổ sung vitamin D3 cộng với canxi cacbonat và các bệnh nhân được điều trị bằng giả dược. Sự thiếu khác biệt này nhất quán bất kể giới tính, nồng độ 25(OH)D ban đầu hoặc lượng canxi hấp thụ qua chế độ ăn uống của người tham gia. Vì sự phát triển xương là một quá trình lâu dài diễn ra từ 11 đến 19 tuổi, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng việc bổ sung lâu dài có thể dẫn đến sự gia tăng tích lũy về xương để cải thiện khối lượng xương tối đa.