​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Hiệu Quả Của Cefiderocol Trong Việc Điều Trị Nhiễm Trùng Máu

Picture
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 27 tháng 3 năm 2026
Picture

Trên toàn cầu, nhiễm trùng máu là một mối lo ngại lớn và gây gánh nặng đáng kể cho hệ thống y tế. Đáng báo động hơn, với sự phát triển và lan rộng của vi khuẩn kháng kháng sinh, việc điều trị các bệnh nhiễm trùng này trở nên khó khăn hơn đáng kể. Cefiderocol là một loại kháng sinh mới đã được phê duyệt sử dụng tại Hoa Kỳ và Châu Âu vào năm 2020. Một nghiên cứu kiểm tra việc sử dụng thuốc này để điều trị nhiễm trùng máu đã được công bố gần đây trên tạp chí Lancet.

Nguồn Tài Trợ: Đại học Queensland, Shionogi; Quỹ Henderson; và Hội đồng Nghiên cứu Y khoa Quốc gia (Singapore).

Nghiên cứu lâm sàng được tiến hành tại 17 bệnh viện ở Úc, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ. Thử nghiệm bao gồm 504 bệnh nhân nhập viện vì nhiễm trùng máu do vi khuẩn. Nhiễm trùng đường tiết niệu, nhiễm trùng ổ bụng và nhiễm trùng đường truyền tĩnh mạch là những nguồn lây nhiễm máu phổ biến nhất, mỗi loại gây ra khoảng 20% ​​trường hợp. Cấy máu cho thấy Escherichia coli là nguyên nhân vi sinh phổ biến nhất - chiếm một phần ba tổng số trường hợp. Vi khuẩn Klebsiella pneumoniae đứng thứ hai, gây ra khoảng 30% các trường hợp.

Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng đường tĩnh mạch với 2g cefiderocol mỗi 8 giờ hoặc một loại kháng sinh tiêu chuẩn đối chứng. Liệu trình điều trị đối chứng này có thể bao gồm tối đa 3 loại kháng sinh có tác dụng chống lại trực khuẩn gram âm. Cefiderocol là một loại cephalosporin có siderophore, có khả năng liên kết với sắt để xâm nhập vào tế bào vi khuẩn. Tại vị trí hoạt động, chuỗi beta lactam của cefiderocol có thể ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào vi khuẩn, làm cho tế bào dễ bị phân giải do thẩm thấu.

14 ngày sau khi bắt đầu điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng cefiderocol có hiệu quả tương đương với phương pháp điều trị tiêu chuẩn trong việc ngăn ngừa tử vong ở những bệnh nhân bị nhiễm trùng máu. Ngoài ra, cefiderocol cũng tương đương với các loại kháng sinh khác trong việc loại bỏ vi khuẩn khỏi máu và nhắm mục tiêu vào các tác nhân gây bệnh kháng carbapenem. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân được điều trị bằng cefiderocol cao hơn nhóm đối chứng nếu họ bị nhiễm Acinetobacter spp. kháng carbapenem; hiện chưa rõ lý do tại sao lại xảy ra điều này. Cần tiến hành nghiên cứu sâu hơn để xem xét việc kết hợp cefiderocol với chất ức chế beta-lactamase nhằm cải thiện hiệu quả điều trị.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues