Sử Dụng Finerenone Ở Bệnh Nhân Mắc Bệnh Thận Mãn Tính & Đái Tháo Đường Loại 1
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 3 năm 2026
|
Nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng sự hoạt hóa quá mức thụ thể mineralocorticoid có thể dẫn đến tăng giữ nước và muối. Bên cạnh những tác động tiêu cực đến thận và hệ tim mạch, nó còn liên quan đến các con đường gây viêm và xơ hóa. Một nghiên cứu được công bố gần đây trên Tạp chí New England Journal of Medicine đã điều tra việc sử dụng finerenone để điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tiểu đường loại 1 và bệnh thận mãn tính.
Nguồn Tài Trợ: Bayer
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 242 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 1 và bệnh thận mãn tính. Những bệnh nhân này có tỷ lệ albumin niệu trên creatinine trung bình khoảng 500 và tốc độ lọc cầu thận ước tính trung bình khoảng 59. Để điều trị bệnh thận, khoảng 52% nhóm nghiên cứu sử dụng thuốc chẹn thụ thể angiotensin; khoảng 45% và 36% sử dụng thuốc ức chế men chuyển angiotensin và thuốc lợi tiểu, tương ứng.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc finerenone với liều hàng ngày là 10 hoặc 20 mg. Finerenone là một chất đối kháng thụ thể mineralocorticoid không steroid, có tác dụng ngăn chặn hoạt động của aldosterone, làm giảm tỷ lệ giữ lại mineralocorticoid. Sau 6 tháng điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy finerenone làm giảm tỷ lệ albumin/creatinine trong nước tiểu xuống 34%, cao hơn đáng kể so với mức giảm 12% được quan sát thấy ở nhóm dùng giả dược. Tuy nhiên, finerenone gây ra sự giảm tốc độ lọc cầu thận. Tác giả lưu ý rằng kết quả này phù hợp với những thay đổi huyết động đã được quan sát trước đây do các liệu pháp khác gây ra. Tuy nhiên, cần tiến hành các nghiên cứu trong tương lai để đánh giá tác dụng lâu dài của finerenone, với số lượng người tham gia đủ lớn để đo lường hiệu quả này với độ chính xác thống kê cao hơn.
Nguồn Tài Trợ: Bayer
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 242 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 1 và bệnh thận mãn tính. Những bệnh nhân này có tỷ lệ albumin niệu trên creatinine trung bình khoảng 500 và tốc độ lọc cầu thận ước tính trung bình khoảng 59. Để điều trị bệnh thận, khoảng 52% nhóm nghiên cứu sử dụng thuốc chẹn thụ thể angiotensin; khoảng 45% và 36% sử dụng thuốc ức chế men chuyển angiotensin và thuốc lợi tiểu, tương ứng.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc finerenone với liều hàng ngày là 10 hoặc 20 mg. Finerenone là một chất đối kháng thụ thể mineralocorticoid không steroid, có tác dụng ngăn chặn hoạt động của aldosterone, làm giảm tỷ lệ giữ lại mineralocorticoid. Sau 6 tháng điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy finerenone làm giảm tỷ lệ albumin/creatinine trong nước tiểu xuống 34%, cao hơn đáng kể so với mức giảm 12% được quan sát thấy ở nhóm dùng giả dược. Tuy nhiên, finerenone gây ra sự giảm tốc độ lọc cầu thận. Tác giả lưu ý rằng kết quả này phù hợp với những thay đổi huyết động đã được quan sát trước đây do các liệu pháp khác gây ra. Tuy nhiên, cần tiến hành các nghiên cứu trong tương lai để đánh giá tác dụng lâu dài của finerenone, với số lượng người tham gia đủ lớn để đo lường hiệu quả này với độ chính xác thống kê cao hơn.