Kiểm Soát Lượng Apolipoprotein C-III Bằng Olezarsen Để Làm Giảm Triglyceride và Ngăn Ngừa Viêm Tụy Cấp
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 6 tháng 3 năm 2026
|
Triglyceride cao trong máu gia tăng nguy cơ viêm tụy cấp. Do đó, các liệu pháp làm giảm nồng độ triglyceride trong huyết thanh, chẳng hạn như fibrate, thường được sử dụng để giảm rủi ro biến chứng ở tụy. Một nghiên cứu gần đây được công bố trên Tạp chí Y học New England đã đánh giá hiệu quả và độ an toàn của olezarsen, một thuốc ức chế apolipoprotein C-III, trong việc làm giảm nồng độ triglyceride và ngăn ngừa viêm tụy.
Nguồn Tài Trợ: Ionis Pharmaceuticals
Thử nghiệm lâm sàng đã tuyển chọn 1.061 người tham gia với độ tuổi trung bình khoảng 54 tuổi và nồng độ triglyceride cơ bản trung bình khoảng 800 mg/dL. Nồng độ apolipoprotein C-III trung bình của nhóm là khoảng 130 mg/dL ở thời điểm ban đầu nghiên cứu. Gần như tất cả những người tham gia đều đang được điều trị hạ lipid máu nền, bao gồm statin (70%), ezetimibe (20%), fibrate (70%) và axit béo omega-3 (30%). Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để được tiêm dưới da mỗi bốn tuần một lần với giả dược hoặc olezarsen ở liều 50 mg hoặc 80 mg. Olezarsen là một oligonucleotide antisense liên kết có khả năng ức chế mRNA của apolipoprotein C-III, do đó làm giảm sự biểu hiện của protein này và tăng cường loại bỏ triglyceride.
Sau 12 tháng điều trị, cả hai nhóm dùng olezarsen đều đạt được mức giảm triglyceride vượt quá 50%, trong khi nhóm dùng giả dược không quan sát thấy sự giảm đáng kể nào. Những tác dụng này là giảm khoảng 50% nồng độ apolipoprotein C-III trong máu. Quan trọng hơn, điều trị bằng olezarsen có liên quan đến việc giảm 85% nguy cơ viêm tụy cấp.
Tuy nhiên, liệu pháp olezarsen - đặc biệt là ở liều 80 mg - có gia tăng tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, bao gồm tăng men gan, giảm tiểu cầu và tăng tỷ lệ mỡ gan. Sự gia tăng mỡ gan có thể phản ánh sự tăng cường hấp thu triglyceride ra khỏi huyết thanh của tế bào gan; điều này góp phần gây tổn thương tế bào gan và tăng ALT và AST. Các nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm sự phân bổ giới tính cân bằng hơn, vì chỉ có 25% người tham gia là nữ, và kéo dài thời gian theo dõi để đánh giá tốt hơn hiệu quả lâu dài, độ an toàn và tính bền vững của điều trị.
Nguồn Tài Trợ: Ionis Pharmaceuticals
Thử nghiệm lâm sàng đã tuyển chọn 1.061 người tham gia với độ tuổi trung bình khoảng 54 tuổi và nồng độ triglyceride cơ bản trung bình khoảng 800 mg/dL. Nồng độ apolipoprotein C-III trung bình của nhóm là khoảng 130 mg/dL ở thời điểm ban đầu nghiên cứu. Gần như tất cả những người tham gia đều đang được điều trị hạ lipid máu nền, bao gồm statin (70%), ezetimibe (20%), fibrate (70%) và axit béo omega-3 (30%). Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để được tiêm dưới da mỗi bốn tuần một lần với giả dược hoặc olezarsen ở liều 50 mg hoặc 80 mg. Olezarsen là một oligonucleotide antisense liên kết có khả năng ức chế mRNA của apolipoprotein C-III, do đó làm giảm sự biểu hiện của protein này và tăng cường loại bỏ triglyceride.
Sau 12 tháng điều trị, cả hai nhóm dùng olezarsen đều đạt được mức giảm triglyceride vượt quá 50%, trong khi nhóm dùng giả dược không quan sát thấy sự giảm đáng kể nào. Những tác dụng này là giảm khoảng 50% nồng độ apolipoprotein C-III trong máu. Quan trọng hơn, điều trị bằng olezarsen có liên quan đến việc giảm 85% nguy cơ viêm tụy cấp.
Tuy nhiên, liệu pháp olezarsen - đặc biệt là ở liều 80 mg - có gia tăng tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, bao gồm tăng men gan, giảm tiểu cầu và tăng tỷ lệ mỡ gan. Sự gia tăng mỡ gan có thể phản ánh sự tăng cường hấp thu triglyceride ra khỏi huyết thanh của tế bào gan; điều này góp phần gây tổn thương tế bào gan và tăng ALT và AST. Các nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm sự phân bổ giới tính cân bằng hơn, vì chỉ có 25% người tham gia là nữ, và kéo dài thời gian theo dõi để đánh giá tốt hơn hiệu quả lâu dài, độ an toàn và tính bền vững của điều trị.