Điều Trị Nhiễm Viêm Gan Siêu Vi D Mãn Tính Bằng Tobevibart và Elebsiran
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 4 tháng 3 năm 2026
|
Viêm gan siêu vi D là một bệnh mãn tính nghiêm trọng có thể làm tăng đáng kể nguy cơ xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Nhiễm virus này có thể được kiểm soát bằng bulevirtide. Tuy nhiên, việc sử dụng bulevirtide rất khó khăn do cần phải tiêm thuốc dưới da hàng ngày. Thêm vào đó, bệnh nhân có nguy cơ tái phát bệnh cao nếu ngừng điều trị. Vì thế một liệu pháp điều trị mới rất cần thiết; một nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá việc sử dụng tobevibart kết hợp với elebsiran để điều trị viêm gan siêu vi D.
Nguồn Tài Trợ: Vir Biotechnology
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 65 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh viêm gan siêu vi D mãn tính với mức RNA HDV huyết thanh trung bình khoảng 5,6 log IU/mL. Trong đó 97% trường hợp nhiễm trùng do HDV trũng gen 1 gây ra. Khoảng 50% bệnh nhân trước đó đã được chẩn đoán mắc bệnh xơ gan, và độ xơ gan của họ được đo bằng FibroScan trung bình là 13,5 kPa. Phân tích sinh hóa ban đầu cho thấy nhóm nghiên cứu có mức ALT trung bình là 80 U/Lít.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng cách tiêm dưới da 300 mg tobevibart mỗi 2 tuần hoặc kết hợp tobevibart (300 mg) cộng với elebsiran (200 mg) mỗi 4 tuần. Sau 48 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy cả liệu pháp đơn trị tobevibart và liệu pháp kết hợp tobevibart cộng với elebsiran đều có hiệu quả trong việc giảm virus viêm gan D và nồng độ ALT. Mặc dù kết quả lâm sàng khả quan này, cần có thêm các nghiên cứu tiếp theo để so sánh các thuốc kháng virus thử nghiệm này với các thuốc đã được chứng minh hiệu quả như bulevirtide. Thêm vào đó, các nghiên cứu trong tương lai cũng nên tăng số lượng người tham gia và tuyển chọn bệnh nhân nhiễm các kiểu gen HDV khác.
Nguồn Tài Trợ: Vir Biotechnology
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 65 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh viêm gan siêu vi D mãn tính với mức RNA HDV huyết thanh trung bình khoảng 5,6 log IU/mL. Trong đó 97% trường hợp nhiễm trùng do HDV trũng gen 1 gây ra. Khoảng 50% bệnh nhân trước đó đã được chẩn đoán mắc bệnh xơ gan, và độ xơ gan của họ được đo bằng FibroScan trung bình là 13,5 kPa. Phân tích sinh hóa ban đầu cho thấy nhóm nghiên cứu có mức ALT trung bình là 80 U/Lít.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng cách tiêm dưới da 300 mg tobevibart mỗi 2 tuần hoặc kết hợp tobevibart (300 mg) cộng với elebsiran (200 mg) mỗi 4 tuần. Sau 48 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy cả liệu pháp đơn trị tobevibart và liệu pháp kết hợp tobevibart cộng với elebsiran đều có hiệu quả trong việc giảm virus viêm gan D và nồng độ ALT. Mặc dù kết quả lâm sàng khả quan này, cần có thêm các nghiên cứu tiếp theo để so sánh các thuốc kháng virus thử nghiệm này với các thuốc đã được chứng minh hiệu quả như bulevirtide. Thêm vào đó, các nghiên cứu trong tương lai cũng nên tăng số lượng người tham gia và tuyển chọn bệnh nhân nhiễm các kiểu gen HDV khác.