Độ Hiệu Quả & Tính An Toàn Của Nivolumab Ở Việc Điều Trị Ung Thư Hắc Tố Da Giai Đoạn Tiến Triển
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 2 tháng 3 năm 2026
|
Sau quá trình thử nghiệm rộng rãi, các chuyên gia đã chứng minh rằng nivolumab có độ hiệu quả cao trong việc điều trị bệnh ung thư hắc tố. Khi so sánh với các liệu pháp miễn dịch khác, nivolumab cũng đã được chứng minh có tính hiệu quả cao hơn. Gần đây, một nghiên cứu theo dõi dài hạn về kết quả lâm sàng của nivolumab đối với bệnh ung thư hắc tố đã được công bố trên Tạp chí Y học New England.
Nguồn Tài Trợ: Bristol Myers Squibb & Ono Pharmaceutical
Nghiên cứu lâm sàng bao gồm 906 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh ung thư hắc tố giai đoạn III và IV. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị trong 1 năm bằng nivolumab hoặc ipilimumab. Nivolumab được dùng mỗi 2 tuần với liều 3 mg/kg trọng lượng cơ thể. Trong khi đó, ipilimumab được dùng với liều 10 mg/kg mỗi 3 tuần trong bốn liều; sau đó tần suất dùng thuốc được giảm xuống còn mỗi 12 tuần. Cả hai phương pháp điều trị đều là liệu pháp miễn dịch giúp ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thư bằng cách vô hiệu hóa cơ chế mà khối u sử dụng để né tránh hệ miễn dịch. Nivolumab hoạt động bằng cách liên kết với thụ thể PD-1 trên tế bào T, trong khi ipilimumab nhắm mục tiêu vào CTLA-4.
Sau thời gian theo dõi tối thiểu 9 năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy nivolumab vượt trội hơn trong việc trì hoãn tái phát bệnh với thời gian trung bình là 61,1 tháng; trong khi thời gian này chỉ là 24,2 tháng đối với những người được điều trị bằng ipilimumab. Ngoài ra, di căn ít xảy ra hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng nivolumab. Đánh giá các tác dụng phụ cho thấy không có tác dụng phụ lâu dài mới nào liên quan đến cả nivolumab và ipilimumab.
Nguồn Tài Trợ: Bristol Myers Squibb & Ono Pharmaceutical
Nghiên cứu lâm sàng bao gồm 906 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh ung thư hắc tố giai đoạn III và IV. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị trong 1 năm bằng nivolumab hoặc ipilimumab. Nivolumab được dùng mỗi 2 tuần với liều 3 mg/kg trọng lượng cơ thể. Trong khi đó, ipilimumab được dùng với liều 10 mg/kg mỗi 3 tuần trong bốn liều; sau đó tần suất dùng thuốc được giảm xuống còn mỗi 12 tuần. Cả hai phương pháp điều trị đều là liệu pháp miễn dịch giúp ngăn ngừa sự phát triển của tế bào ung thư bằng cách vô hiệu hóa cơ chế mà khối u sử dụng để né tránh hệ miễn dịch. Nivolumab hoạt động bằng cách liên kết với thụ thể PD-1 trên tế bào T, trong khi ipilimumab nhắm mục tiêu vào CTLA-4.
Sau thời gian theo dõi tối thiểu 9 năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy nivolumab vượt trội hơn trong việc trì hoãn tái phát bệnh với thời gian trung bình là 61,1 tháng; trong khi thời gian này chỉ là 24,2 tháng đối với những người được điều trị bằng ipilimumab. Ngoài ra, di căn ít xảy ra hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng nivolumab. Đánh giá các tác dụng phụ cho thấy không có tác dụng phụ lâu dài mới nào liên quan đến cả nivolumab và ipilimumab.