Điều Trị Ung Thư Phổi Không Tế Bào Nhỏ Có Đột Biến Thụ Thể EGFR Bằng Thuốc Sacituzumab Tirumotecan
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 2 năm 2026
|
Các khối u ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ biểu hiện mức độ cao thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR). Vì các thụ thể này rất quan trọng đối với sự phát triển của khối u, nên việc ức chế mục tiêu này bằng thuốc ức chế tyrosine kinase EGFR (EGFR-TKI) là một chiến lược hiệu quả để điều trị ung thư. Tuy nhiên, đột biến ở thụ thể EGFR có thể dẫn đến kháng thuốc. Trong những trường hợp này, một nghiên cứu đã được tiến hành để khám phá việc sử dụng sacituzumab tirumotecan để điều trị thay thế.
Nguồn Tài Trợ: Công ty Dược phẩm Sinh học Sichuan Kelun-Biotech
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Trung Quốc, bao gồm 376 người tham gia được chẩn đoán mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ. Hầu hết các bệnh nhân đều ở giai đoạn IV, với di căn não và gan xảy ra ở khoảng 15% nhóm nghiên cứu. Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có đột biến gen EGFR, trong đó khoảng 40% có sự thay thế leucine thành arginine tại vị trí 858 trên exon 21 và 60% có sự mất đoạn exon 19. Khoảng 95% người tham gia trước đã được điều trị bằng thuốc ức chế EGFR-TKI thế hệ thứ ba.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng liệu trình pemetrexed với hóa trị hoặc sacituzumab tirumotecan. Phương pháp điều trị với sacituzumab tirumotecan được dùng qua đường tĩnh mạch với liều 5 mg/kg trọng lượng cơ thể vào ngày thứ 1 và ngày thứ 15 của chu kỳ 28 ngày. Sacituzumab tirumotecan là một thuốc liên hợp kháng thể, trong đó kháng thể nhắm mục tiêu vào protein Trop-2 trên bề mặt tế bào ung thư. Việc này giúp dẫn thuốc ức chế topoisomerase I đến khu vực hoạt tính để ngăn ngừa phát triển khối u.
Sau thời gian theo dõi trung bình là 18,9 tháng, các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng bệnh nhân được điều trị bằng sacituzumab tirumotecan đã giảm 51% nguy cơ tử vong hoặc tiến triển bệnh. Phân tích nhóm phụ cho thấy phương pháp điều trị thử nghiệm này có hiệu quả bất kể loại đột biến EGFR nào, vì thụ thể này không phải là mục tiêu chính của điều trị. Ngoài ra, phân tích cho thấy phương pháp điều trị này không hiệu quả bằng ở những bệnh nhân có di căn não, điều này có thể cho thấy thuốc có thể không thâm nhập được hàng rào máu não. Bên cạnh việc ngăn chặn sự tiến triển của bệnh, hiện tượng teo khối u phổ biến hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng sacituzumab tirumotecan. Tuy nhiên, sacituzumab tirumotecan có liên quan đến tần suất rụng tóc và viêm miệng cao hơn đáng kể.
Nguồn Tài Trợ: Công ty Dược phẩm Sinh học Sichuan Kelun-Biotech
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Trung Quốc, bao gồm 376 người tham gia được chẩn đoán mắc ung thư phổi không tế bào nhỏ. Hầu hết các bệnh nhân đều ở giai đoạn IV, với di căn não và gan xảy ra ở khoảng 15% nhóm nghiên cứu. Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều có đột biến gen EGFR, trong đó khoảng 40% có sự thay thế leucine thành arginine tại vị trí 858 trên exon 21 và 60% có sự mất đoạn exon 19. Khoảng 95% người tham gia trước đã được điều trị bằng thuốc ức chế EGFR-TKI thế hệ thứ ba.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng liệu trình pemetrexed với hóa trị hoặc sacituzumab tirumotecan. Phương pháp điều trị với sacituzumab tirumotecan được dùng qua đường tĩnh mạch với liều 5 mg/kg trọng lượng cơ thể vào ngày thứ 1 và ngày thứ 15 của chu kỳ 28 ngày. Sacituzumab tirumotecan là một thuốc liên hợp kháng thể, trong đó kháng thể nhắm mục tiêu vào protein Trop-2 trên bề mặt tế bào ung thư. Việc này giúp dẫn thuốc ức chế topoisomerase I đến khu vực hoạt tính để ngăn ngừa phát triển khối u.
Sau thời gian theo dõi trung bình là 18,9 tháng, các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng bệnh nhân được điều trị bằng sacituzumab tirumotecan đã giảm 51% nguy cơ tử vong hoặc tiến triển bệnh. Phân tích nhóm phụ cho thấy phương pháp điều trị thử nghiệm này có hiệu quả bất kể loại đột biến EGFR nào, vì thụ thể này không phải là mục tiêu chính của điều trị. Ngoài ra, phân tích cho thấy phương pháp điều trị này không hiệu quả bằng ở những bệnh nhân có di căn não, điều này có thể cho thấy thuốc có thể không thâm nhập được hàng rào máu não. Bên cạnh việc ngăn chặn sự tiến triển của bệnh, hiện tượng teo khối u phổ biến hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng sacituzumab tirumotecan. Tuy nhiên, sacituzumab tirumotecan có liên quan đến tần suất rụng tóc và viêm miệng cao hơn đáng kể.