Gia Tăng Liều Rifampin Để Điều Trị Viêm Màng Não Do Lao
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 30 tháng 1 năm 2026
|
Điều trị viêm màng não do lao có rất nhiều khó khăn do phác đồ điều trị phức tạp, tỷ lệ kháng thuốc ngày càng tăng, và thuốc không thể thâm nhập vào dịch não tủy. Điều này dẫn đến kết quả điều trị kém hiệu quả và tỷ lệ tử vong cao ở bệnh nhân bị bội nhiễm lao và HIV. Một nghiên cứu được tài trợ bởi Hội Đồng Nghiên Cứu Y Khoa Vương Quốc Anh đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng phác đồ rifampin liều cao để điều trị viêm màng não do lao.
Nghiên cứu lâm sàng được thực hiện tại Indonesia, Nam Phi, Uganda và bao gồm 499 người tham gia được chẩn đoán mắc viêm màng não do lao. Chẩn đoán lâm sàng này được xác định bằng mẫu dịch não tủy dương tính về mặt vi sinh khi xét nghiệm bằng phương pháp Xpert MTB/RIF Ultra. Xét nghiệm dịch não tủy cho thấy các bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung bình từ 50 đến 60 tế bào trên mỗi milimét khối. Đánh giá triệu chứng bằng thang điểm mức độ nghiêm trọng bệnh MRC cho thấy khoảng 17% trong số họ mắc bệnh ở thể nặng nhất, với các chức năng não bộ như nhận thức, nói chuyện và vận động của bệnh nhân suy giảm nghiêm trọng. Khoảng 60% người tham gia nghiên cứu bị bội nhiễm HIV, trong đó 40% đang được điều trị với thuốc kháng retrovirus.
Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng liều rifampin tiêu chuẩn 10 mg hoặc liều rifampin cao hơn 35 mg trong 8 tuần đầu tiên. Sau đó, liều lượng được điều chỉnh về 10 mg cho tất cả người tham gia trong 9 đến 12 tháng còn lại. Ngoài rifampin, tất cả bệnh nhân đều được điều trị bằng các loại thuốc chống lao tiêu chuẩn khác như isoniazid, pyrazinamide và ethambutol. Sau 6 tháng đầu tiên, các nhà nghiên cứu nhận thấy có sự giảm nhẹ, nhưng không có ý nghĩa thống kê, về tỷ lệ sống sót ở những bệnh nhân được điều trị bằng liều rifampin liều cao (35 mg) so với liều rifampin tiêu chuẩn 10 mg. Việc thiếu lợi ích lâm sàng này được phát hiện ở các bệnh nhân bất kể mức độ nghiêm trọng của bệnh, tình trạng nhiễm HIV, việc sử dụng thuốc kháng retrovirus hay số lượng tế bào CD4 của họ. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng liều rifampin cao hơn có thể gây bất lợi cho khả năng sống sót của bệnh nhân, vì việc tiêu diệt vi khuẩn lao nhanh hơn có thể gây ra phản ứng miễn dịch mạnh hơn, dẫn đến tình trạng viêm nghiêm trọng.
Nghiên cứu lâm sàng được thực hiện tại Indonesia, Nam Phi, Uganda và bao gồm 499 người tham gia được chẩn đoán mắc viêm màng não do lao. Chẩn đoán lâm sàng này được xác định bằng mẫu dịch não tủy dương tính về mặt vi sinh khi xét nghiệm bằng phương pháp Xpert MTB/RIF Ultra. Xét nghiệm dịch não tủy cho thấy các bệnh nhân có số lượng bạch cầu trung bình từ 50 đến 60 tế bào trên mỗi milimét khối. Đánh giá triệu chứng bằng thang điểm mức độ nghiêm trọng bệnh MRC cho thấy khoảng 17% trong số họ mắc bệnh ở thể nặng nhất, với các chức năng não bộ như nhận thức, nói chuyện và vận động của bệnh nhân suy giảm nghiêm trọng. Khoảng 60% người tham gia nghiên cứu bị bội nhiễm HIV, trong đó 40% đang được điều trị với thuốc kháng retrovirus.
Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng liều rifampin tiêu chuẩn 10 mg hoặc liều rifampin cao hơn 35 mg trong 8 tuần đầu tiên. Sau đó, liều lượng được điều chỉnh về 10 mg cho tất cả người tham gia trong 9 đến 12 tháng còn lại. Ngoài rifampin, tất cả bệnh nhân đều được điều trị bằng các loại thuốc chống lao tiêu chuẩn khác như isoniazid, pyrazinamide và ethambutol. Sau 6 tháng đầu tiên, các nhà nghiên cứu nhận thấy có sự giảm nhẹ, nhưng không có ý nghĩa thống kê, về tỷ lệ sống sót ở những bệnh nhân được điều trị bằng liều rifampin liều cao (35 mg) so với liều rifampin tiêu chuẩn 10 mg. Việc thiếu lợi ích lâm sàng này được phát hiện ở các bệnh nhân bất kể mức độ nghiêm trọng của bệnh, tình trạng nhiễm HIV, việc sử dụng thuốc kháng retrovirus hay số lượng tế bào CD4 của họ. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng liều rifampin cao hơn có thể gây bất lợi cho khả năng sống sót của bệnh nhân, vì việc tiêu diệt vi khuẩn lao nhanh hơn có thể gây ra phản ứng miễn dịch mạnh hơn, dẫn đến tình trạng viêm nghiêm trọng.