So Sánh Tirzepatide và Dulaglutide Trong Việc Phòng Ngừa Bệnh Tim Mạch
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 26 tháng 1 năm 2026
|
Việc sử dụng thuốc chủ vận GLP-1 đã trở nên rất phổ biến như một phương pháp để kiểm soát cân nặng, quản lý bệnh tiểu đường và ngăn ngừa các biến chứng sức khỏe khác liên quan đến béo phì. Một số biến chứng này là các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Với sự tài trợ của Eli Lilly, một nghiên cứu đã được tiến hành nhằm so sánh tirzepatide với dulaglutide trong việc ngăn ngừa bệnh tim mạch.
Thử nghiệm lâm sàng đã tuyển chọn hơn 13.000 người tham gia với độ tuổi trung bình là 64 tuổi, được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 2. Ở thời điểm ban đầu, những người tham gia này có chỉ số khối cơ thể trung bình là 32,6 và mức hemoglobin glycated là 8,4%. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng cách tiêm dưới da 15 mg tirzepatide hoặc 1,5 mg dulaglutide mỗi tuần một lần. Cả hai loại thuốc đều hoạt động như chất chủ vận trên thụ thể peptide giống glucagon-1 (GLP-1); tuy nhiên, tirzepatide hiệu quả hơn do hoạt động đồng thời trên thụ thể polypeptide kích thích tiết insulin phụ thuộc glucose (GIP).
Sau thời gian theo dõi trung bình 4 năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể về nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ giữa bệnh nhân được điều trị bằng tirzepatide và dulaglutide. Phân tích chuyên sâu cho thấy tirzepatide hiệu quả hơn trong việc giảm mức hemoglobin glycated, trọng lượng cơ thể, mức triglyceride và huyết áp tâm thu. Ngoài ra, bệnh nhân được điều trị bằng tirzepatide ít bị giảm tốc độ lọc cầu thận ước tính hơn.
Thử nghiệm lâm sàng đã tuyển chọn hơn 13.000 người tham gia với độ tuổi trung bình là 64 tuổi, được chẩn đoán mắc bệnh tiểu đường loại 2. Ở thời điểm ban đầu, những người tham gia này có chỉ số khối cơ thể trung bình là 32,6 và mức hemoglobin glycated là 8,4%. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng cách tiêm dưới da 15 mg tirzepatide hoặc 1,5 mg dulaglutide mỗi tuần một lần. Cả hai loại thuốc đều hoạt động như chất chủ vận trên thụ thể peptide giống glucagon-1 (GLP-1); tuy nhiên, tirzepatide hiệu quả hơn do hoạt động đồng thời trên thụ thể polypeptide kích thích tiết insulin phụ thuộc glucose (GIP).
Sau thời gian theo dõi trung bình 4 năm, các nhà nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể về nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ giữa bệnh nhân được điều trị bằng tirzepatide và dulaglutide. Phân tích chuyên sâu cho thấy tirzepatide hiệu quả hơn trong việc giảm mức hemoglobin glycated, trọng lượng cơ thể, mức triglyceride và huyết áp tâm thu. Ngoài ra, bệnh nhân được điều trị bằng tirzepatide ít bị giảm tốc độ lọc cầu thận ước tính hơn.