​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Bổ Sung Golimumab Vào Phác Đồ Điều Trị Methotrexate/Corticosteroid Để Kiểm Soát Viêm Khớp Vảy Nến

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 22 tháng 12 năm 2025
Picture

Bệnh nhân có tiền sử bệnh vảy nến da có nguy cơ mắc viêm khớp vảy nến cao hơn trong tương lai. Phác đồ điều trị tiêu chuẩn hiện nay là sự kết hợp giữa corticosteroid, methotrexate và thuốc sinh học ức chế con đường sưng viêm. Do chi phí cao của các thuốc sinh học, chúng thường không có sẵn ở các nước đang phát triển. Với sự tài trợ của Janssen, một nghiên cứu đã được tiến hành để điều tra hiệu quả lâm sàng của golimumab trong điều trị viêm khớp vảy nến.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 84 người tham gia với độ tuổi trung bình là 42,5 tuổi và được chẩn đoán mắc viêm khớp vảy nến trong vòng 24 tháng trước đó, nhưng chưa được điều trị bằng bất kỳ loại thuốc chống thấp khớp nào. Nghiên cứu sử dụng thang điểm Psoriatic Arthritis Disease Activity Score để đánh giá và kết quả cho thấy điểm số trung bình ban đầu là 5,7, trong đó điểm số cao hơn 28 có nghĩa là bệnh nặng. Thang điểm này đánh giá độ đau và sưng của các khớp khác nhau, và có tính đến mức độ protein phản ứng C của bệnh nhân.

Các bệnh nhân tham gia được phân ngẫu nhiên để tiêm dưới da giả dược hoặc 50 mg golimumab mỗi 4 tuần; liều này được tăng lên 100 mg đối với những người tham gia có cân nặng trên 100 kg. Golimumab làm giảm mức độ nghiêm trọng của viêm khớp vảy nến bằng cách ngăn chặn sự tương tác giữa cytokine gây viêm, TNF-alpha, và các thụ thể của nó. Ngoài ra, bệnh nhân còn được điều trị bằng methylprednisolone tiêm bắp/tiêm nội khớp và methotrexate đường uống.

Sau 52 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu nhận thấy cả hai phác đồ : có hoặc không có golimumab, đều có hiệu quả trong việc giảm mức độ nghiêm trọng của viêm khớp vảy nến. Tuy nhiên, không có sự cải thiện đáng kể về lợi ích lâm sàng khi bổ sung golimumab vào phác đồ kết hợp methotrexate/prednisolone. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng cỡ mẫu của nghiên cứu này vẫn còn bị hạn chế, nhưng về mặt thống kê là đủ để so sánh hiệu quả lâm sàng giữa hai phác đồ này. Một hạn chế khác của nghiên cứu này là nó được thực hiện tại một bệnh viện duy nhất ở Vương quốc Anh. Các nghiên cứu trong tương lai khám phá mối quan hệ này cũng nên xem xét sử dụng các nhóm thuốc chống thấp khớp khác.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues