​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Quản Lý Bệnh Mất Ngủ Bằng Thuốc Seltrorexant Ức Chế Thụ Thể Orexin

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 15 tháng 12 năm 2025
Picture

Chứng mất ngủ ngày càng phổ biến, tuy nhiên, các lựa chọn điều trị vẫn còn hạn chế. Hiện nay, chỉ có hai nhóm thuốc chính được phê duyệt: benzodiazepine và thuốc an thần không thuộc nhóm benzodiazepine như zolpidem. Những loại thuốc này có hiệu quả đối với một số bệnh nhân nhưng thường đi kèm với những nhược điểm, bao gồm buồn ngủ ban ngày, phụ thuộc thuốc, nhờn thuốc và nguy cơ suy giảm nhận thức cao hơn ở người lớn tuổi. Để tìm kiếm những lựa chọn thay thế tốt hơn, Johnson & Johnson đã tài trợ một nghiên cứu đánh giá việc sử dụng seltorexant để điều trị chứng mất ngủ.

Thử nghiệm đã tuyển chọn 364 người lớn với độ tuổi trung bình là 57,8 tuổi, tất cả đều được chẩn đoán mắc chứng mất ngủ theo tiêu chuẩn DSM-5. Những người mắc các rối loạn giấc ngủ khác - chẳng hạn như ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn, hội chứng chân không yên hoặc các chứng rối loạn giấc ngủ khác - đã bị loại trừ. Ban đầu, những người tham gia cho thấy rối loạn giấc ngủ đáng kể, với điểm số Chỉ số Mức độ Nghiêm trọng của Mất ngủ trung bình là 20,2 trên 28. Thời gian trung bình để ngủ sâu giấc (LPS) là 87,4 phút, và thời gian thức giấc sau khi bắt đầu ngủ trong sáu giờ đầu tiên (WASO-6) trung bình là 79,4 phút.

Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để nhận giả dược, zolpidem hoặc seltorexant trước khi đi ngủ. Zolpidem, được dùng ở liều 5 mg hoặc 10 mg tùy thuộc vào quy định địa phương, hoạt động bằng cách tăng cường hoạt động của thụ thể GABA-A để giảm sự dẫn truyền thần kinh. Seltorexant hoạt động thông qua một con đường khác: nó chặn thụ thể orexin-2, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự tỉnh táo. Thuốc mới được thử nghiệm ở các liều 5 mg, 10 mg và 20 mg.

Sau một liều duy nhất, nhóm dùng seltorexant 20 mg cho thấy phản ứng mạnh nhất, vượt trội hơn cả giả dược và zolpidem. Trong nhóm này, thời gian để có được giấc ngủ sâu giảm từ mức cơ bản khoảng 70 phút xuống chỉ còn 20 phút. Theo dõi vào ngày thứ 13 xác nhận rằng những lợi ích này được duy trì mà không có dấu hiệu phát triển khả năng dung nạp thuốc. Hồ sơ tác dụng phụ tương tự nhau giữa các liều seltorexant và tương đương với zolpidem và giả dược. Thuốc cũng có vẻ hiệu quả như nhau ở các nhóm tuổi khác nhau. Mặc dù những kết quả này rất đáng khích lệ, nhưng cần có các nghiên cứu dài hạn hơn để đánh giá hiệu quả bền vững, khả năng dung nạp thuốc và tính an toàn lâu dài.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues