​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Điều Trị Ung Thư Vú Bộ Ba Âm Tính Tiến Triển Bằng Sacituzumab Govitecan

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 8 tháng 12 năm 2025
Picture

Bệnh nhân có khối u vú thiếu biểu hiện của ba thụ thể hormone chính và thường có kết quả điều trị kém hơn những bệnh nhân khác. Bệnh ung thư vú bộ ba âm tính này có tỷ lệ tử vong trong 5 năm khoảng 85%. Mặc dù việc ngăn chặn con đường trốn tránh miễn dịch PD-1 có thể hiệu quả, nhưng các liệu pháp miễn dịch này mang lại ít lợi ích khi khối u không biểu hiện hoặc không điều hòa giảm PD-1. Để giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Gilead tài trợ đã đánh giá sacituzumab govitecan như một lựa chọn điều trị cho ung thư vú bộ ba âm tính.

Thử nghiệm giai đoạn 3 đã tuyển chọn 558 phụ nữ với độ tuổi trung bình là 55. Tất cả những người tham gia đều có khối u được xác nhận biểu hiện dưới 1% thụ thể estrogen, thụ thể progesterone và HER2. Chỉ có ba bệnh nhân có khối u biểu hiện PD-L1. Khoảng 30% có biểu hiện bệnh di căn khi được chẩn đoán, trong khi số còn lại bị tái phát sau khi điều trị trước đó.

Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng hóa trị liệu tiêu chuẩn - paclitaxel, carboplatin hoặc gemcitabine - hoặc sacituzumab govitecan. Liệu pháp điều trị thử nghiệm được tiêm tĩnh mạch với liều 10 mg/kg vào ngày 1 và ngày 8 của chu kỳ 21 ngày. Sacituzumab govitecan là một liên hợp kháng thể-thuốc: thành phần kháng thể của nó nhắm vào Trop-2 - một kháng nguyên bề mặt thường biểu hiện quá mức trong TNBC, trong khi thuốc liên kết là một chất ức chế topoisomerase I làm gián đoạn quá trình sao chép DNA và hạn chế sự tăng sinh tế bào khối u.

Sacituzumab govitecan đã cải thiện đáng kể kết quả điều trị. Thời gian sống không tiến triển trung bình tăng lên 9,7 tháng, so với 6,9 tháng ở nhóm hóa trị, tương ứng với việc giảm 38% nguy cơ tiến triển bệnh hoặc tử vong. Phân tích phân nhóm cho thấy điều trị hiệu quả nhất ở những bệnh nhân dưới 65 tuổi, không có di căn não và đã từng tiếp xúc với paclitaxel. Các tác dụng phụ thường gặp bao gồm giảm bạch cầu trung tính, tiêu chảy và giảm bạch cầu.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues