​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Thuốc Ức Chế Interleukin-23 Đường Uống, Icotrokinra, Để Kiểm Soát Bệnh Vẩy Nến Mảng Bám Từ Trung Bình Đến Nặng

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 1 tháng 12 năm 2025
Picture

Vảy nến mảng là một tình trạng viêm da do phản ứng miễn dịch quá mức. Các phương pháp điều trị nhắm vào các con đường gây viêm - chẳng hạn như interleukin-12 (IL-12), IL-17, IL-23 và TNFα - mang lại hiệu quả, tuy nhiên, hầu hết là thuốc dạng tiêm. Việc phải tái khám thường xuyên có thể làm giảm sự tuân thủ điều trị, trong khi các phương pháp điều trị bằng đường uống hiện nay thường kém hiệu quả hơn. Nhằm giải quyết vấn đề này, một nghiên cứu do Johnson & Johnson tài trợ đã đánh giá thuốc icotrokinra trong việc điều trị vẩy nến mảng.

Thử nghiệm giai đoạn 3 đã tuyển chọn 684 người tham gia bị vẩy nến mảng từ trung bình đến nặng, chiếm trung bình 25,5% tổng diện tích bề mặt cơ thể. Điểm số trung bình của Psoriasis Area and Severity Index (PASI) của họ là 19,9. Sử dụng Investigator’s Global Assessment (IGA), 75% bệnh nhân được phân loại là mắc bệnh trung bình (điểm 3) và 25% còn lại mắc bệnh nặng (điểm 4). Hầu hết bệnh nhân (72%) đã được điều trị trước đó, bao gồm 34% đã sử dụng thuốc ức chế cytokine tiêm và 30% đã trải qua liệu pháp quang trị liệu.

Những người tham gia được phân ngẫu nhiên dùng giả dược hoặc icotrokinra uống với liều hàng ngày 200 mg. Icotrokinra hoạt động bằng cách ngăn chặn tín hiệu thụ thể IL-23. Sau 16 tuần, 69% bệnh nhân được điều trị bằng icotrokinra đạt được ít nhất 75% cải thiện PASI so với ban đầu, so với chỉ 11% ở nhóm giả dược. Tương tự, 65% người tham gia được điều trị đạt điểm IGA là 0 hoặc 1, so với 8% ở nhóm đối chứng. Kết quả về an toàn không cho thấy sự gia tăng về các tác dụng phụ liên quan đến icotrokinra. Các thử nghiệm so sánh trong tương lai sẽ giúp xác định liệu pháp uống này so sánh như thế nào với các phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện tại và tính dễ sử dụng của nó có thể cải thiện khả năng tiếp cận và tuân thủ lâu dài hay không.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues