​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Kết Hợp Amivantamab và Lazertinib Để Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
Đăng vào ngày 26 tháng 11 năm 2025
Picture

Các liệu pháp hóa trị nhắm vào đường truyền tín hiệu thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR-TKI) đóng vai trò trung tâm trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Tuy nhiên, ngay cả những loại thuốc thế hệ thứ ba tiên tiến nhất cũng chỉ mang lại lợi ích ở mức độ vừa phải với thời gian sống trung bình khoảng ba năm và tỷ lệ sống sót sau 5 năm dưới 20%. Tình trạng kháng thuốc với các liệu pháp hiện tại vẫn tiếp tục xuất hiện, làm nổi bật nhu cầu về các chiến lược điều trị mới. Nhờ vào sự hỗ trợ từ Janssen, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng kết hợp amivantamab và lazertinib trong điều trị NSCLC.

Thử nghiệm giai đoạn 3 đã tuyển chọn 858 người tham gia mắc bệnh ung thư phổi không phải tế bào nhỏ tiến triển tại chỗ hoặc di căn. Xét nghiệm di truyền khối u cho thấy khoảng 60% có đột biến mất đoạn exon 19, trong khi những bệnh nhân còn lại mang đột biến thay thế leucine thành arginine ở vị trí 858. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để dùng osimertinib đơn độc hoặc kết hợp amivantamab và lazertinib. Cả osimertinib và lazertinib đều là EGFR-TKI thế hệ thứ ba, trong khi amivantamab là kháng thể bispecific EGFR-MET được thiết kế để ức chế sự phát triển của khối u do cả hai con đường truyền tín hiệu EGFR và MET thúc đẩy.

Sau thời gian theo dõi trung bình 37,8 tháng, điều trị bằng amivantamab kết hợp với lazertinib giúp giảm 25% nguy cơ tử vong so với osimertinib. Tỷ lệ sống sót chung sau 3 năm cũng cao hơn ở nhóm phối hợp, đạt 60%, so với 51% ở nhóm osimertinib. Tuy nhiên, các tác dụng phụ phổ biến hơn ở những bệnh nhân được điều trị phối hợp: 80% gặp tác dụng phụ đáng kể, so với 52% ở nhóm osimertinib.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues