Ngăn Ngừa Virus Hợp Bào Hô Hấp RSV Bằng Clesrovimab
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 24 tháng 10 năm 2025
|
Nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) là nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ sơ sinh phải nhập viện, với mức độ nghiêm trọng của bệnh cao nhất ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Các nghiên cứu trước đã phát hiện ra rằng các kháng thể đơn dòng như nirsevimab và palivizumab là một biện pháp phòng ngừa nhiễm RSV ở trẻ sơ sinh hiệu quả. Với sự tài trợ của công ty dược Merck, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc sử dụng clesrovimab để ngăn ngừa nhiễm RSV ở trẻ nhỏ.
Nghiên cứu lâm sàng này bao gồm 3614 trẻ sơ sinh ở độ tuổi trung bình 3,7 tháng tuổi. 82,5% trong số những trẻ này sinh đủ tháng với tuổi thai trên 35 tuần, và số còn lại sinh non muộn với tuổi thai từ 29 đến 34 tuần. Những trẻ này được chỉ định ngẫu nhiên để tiêm bắp với dung dịch bao gồm giả dược hoặc 105 mg clesrovimab.
Tương tự như các thuốc thường dùng như nirsevimab và palivizumab, clesrovimab cũng là một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein dung hợp mà virus RSV sử dụng để xâm nhập và lây nhiễm tế bào. Palivizumab có khả năng bám vào dùng II trên protein dung hợp (F), và nirsevimab bám vào khu vực Ø. Mục tiêu của clesrovimab là vị trí IV trên protein dung hợp. Mục tiêu này hiện diện trên cấu hình tiền hợp nhất và cấu trúc sau hợp nhất của protein F; trong khi đó, vị trí Ø chỉ hiện diện trên dạng tiền hợp nhất. Ngoài ra, vị trí IV được bảo tồn rất cao; do đó, nguy cơ kháng thuốc thấp hơn.
Theo dõi sau 180 ngày tiêm cho thấy nirsevimab có hiệu quả 90% trong việc ngăn ngừa nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng và hiệu quả gần 100% trong việc ngăn ngừa nhập viện liên quan đến RSV. Trong số 7 bệnh nhân được tiêm clesrovimab bị nhiễm trùng nặng, RSV mang đột biến G446E có thể đã can thiệp vào quá trình liên kết kháng thể. Các nghiên cứu trong tương lai nên thực hiện so sánh trực tiếp giữa clesrovimab và các kháng thể đơn dòng khác nhắm vào RSV.
Nghiên cứu lâm sàng này bao gồm 3614 trẻ sơ sinh ở độ tuổi trung bình 3,7 tháng tuổi. 82,5% trong số những trẻ này sinh đủ tháng với tuổi thai trên 35 tuần, và số còn lại sinh non muộn với tuổi thai từ 29 đến 34 tuần. Những trẻ này được chỉ định ngẫu nhiên để tiêm bắp với dung dịch bao gồm giả dược hoặc 105 mg clesrovimab.
Tương tự như các thuốc thường dùng như nirsevimab và palivizumab, clesrovimab cũng là một kháng thể đơn dòng nhắm vào protein dung hợp mà virus RSV sử dụng để xâm nhập và lây nhiễm tế bào. Palivizumab có khả năng bám vào dùng II trên protein dung hợp (F), và nirsevimab bám vào khu vực Ø. Mục tiêu của clesrovimab là vị trí IV trên protein dung hợp. Mục tiêu này hiện diện trên cấu hình tiền hợp nhất và cấu trúc sau hợp nhất của protein F; trong khi đó, vị trí Ø chỉ hiện diện trên dạng tiền hợp nhất. Ngoài ra, vị trí IV được bảo tồn rất cao; do đó, nguy cơ kháng thuốc thấp hơn.
Theo dõi sau 180 ngày tiêm cho thấy nirsevimab có hiệu quả 90% trong việc ngăn ngừa nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp dưới nặng và hiệu quả gần 100% trong việc ngăn ngừa nhập viện liên quan đến RSV. Trong số 7 bệnh nhân được tiêm clesrovimab bị nhiễm trùng nặng, RSV mang đột biến G446E có thể đã can thiệp vào quá trình liên kết kháng thể. Các nghiên cứu trong tương lai nên thực hiện so sánh trực tiếp giữa clesrovimab và các kháng thể đơn dòng khác nhắm vào RSV.