Dùng Lumateperone Bổ Sung Vào Liệu Pháp Điều Trị Chứng Rối Loạn Trầm Cảm Nặng
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 3 tháng 10 năm 2025
|
Rối loạn trầm cảm (MDD) là một tình trạng rất phổ biến, và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nhưng liệu pháp chống trầm cảm tiêu chuẩn chỉ đạt được sự thuyên giảm ở khoảng một nửa số bệnh nhân. Những nỗ lực nhằm tăng cường hiệu quả của thuốc chống loạn thần bổ trợ đã bị hạn chế do khả năng dung nạp kém và tỷ lệ ngừng điều trị cao. Để giải quyết vấn đề này, công ty dược Johnson & Johnson đã tài trợ một nghiên cứu đánh giá sử dụng lumateperone, một loại thuốc chống loạn thần mới, để bổ trợ cho thuốc chống trầm cảm truyền thống trong việc điều trị rối loạn trầm cảm.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 484 người tham gia với độ tuổi trung bình là 45, tất cả đều được chẩn đoán mắc chứng rối loạn trầm cảm theo tiêu chuẩn DSM-5. Hai phần ba số người tham gia là phụ nữ, với trung bình 3,6 lần xuất hiện các cơn trầm cảm trước đó. Đánh giá ban đầu với thang điểm MADRS do bác sĩ đánh giá là 30,2; thang điểm QIDS-SR-16 do bệnh nhân đánh giá là 17,8 và thang điểm GAD-7 là 9,7. Hầu hết bệnh nhân được dùng thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (69%), tiếp theo là thuốc ức chế tái hấp thu norepinephrine có chọn lọc (24%).
Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc 42 mg lumateperone ngoài phác đồ điều trị chống trầm cảm hiện tại. Lumateperone, đã được phê duyệt cho bệnh tâm thần phân liệt và trầm cảm lưỡng cực. Thuốc hoạt động như một chất đối kháng 5-HT2A và điều chỉnh tín hiệu dopamine, glutamate và aspartate. Thuốc được giả thuyết là có ít tác dụng phụ hơn, do lumateperone có tác động tối thiểu lên thụ thể muscarinic và 5-HT2C.
Sau 43 ngày điều trị, những bệnh nhân dùng lumateperone cho thấy sự cải thiện lâm sàng đáng kể hơn so với giả dược, thể hiện qua việc giảm cả điểm MADRS và QIDS-SR-16. Đáng chú ý, lợi ích đã được quan sát thấy sớm nhất là vào ngày thứ 8, với tỷ lệ thuyên giảm tổng thể cao hơn ở nhóm dùng lumateperone. Mặc dù các tác dụng phụ như khô miệng, mệt mỏi và run xảy ra thường xuyên hơn, nhưng không có sự gia tăng đáng kể nào về nguy cơ chuyển hóa hoặc tăng cân. Các tác giả đề xuất rằng các nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm những bệnh nhân bị trầm cảm kháng trị, nguy cơ tự tử cao hoặc mắc các bệnh lý tâm thần đi kèm để xác định rõ hơn vai trò của lumateperone trong thực hành lâm sàng.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 484 người tham gia với độ tuổi trung bình là 45, tất cả đều được chẩn đoán mắc chứng rối loạn trầm cảm theo tiêu chuẩn DSM-5. Hai phần ba số người tham gia là phụ nữ, với trung bình 3,6 lần xuất hiện các cơn trầm cảm trước đó. Đánh giá ban đầu với thang điểm MADRS do bác sĩ đánh giá là 30,2; thang điểm QIDS-SR-16 do bệnh nhân đánh giá là 17,8 và thang điểm GAD-7 là 9,7. Hầu hết bệnh nhân được dùng thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (69%), tiếp theo là thuốc ức chế tái hấp thu norepinephrine có chọn lọc (24%).
Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc 42 mg lumateperone ngoài phác đồ điều trị chống trầm cảm hiện tại. Lumateperone, đã được phê duyệt cho bệnh tâm thần phân liệt và trầm cảm lưỡng cực. Thuốc hoạt động như một chất đối kháng 5-HT2A và điều chỉnh tín hiệu dopamine, glutamate và aspartate. Thuốc được giả thuyết là có ít tác dụng phụ hơn, do lumateperone có tác động tối thiểu lên thụ thể muscarinic và 5-HT2C.
Sau 43 ngày điều trị, những bệnh nhân dùng lumateperone cho thấy sự cải thiện lâm sàng đáng kể hơn so với giả dược, thể hiện qua việc giảm cả điểm MADRS và QIDS-SR-16. Đáng chú ý, lợi ích đã được quan sát thấy sớm nhất là vào ngày thứ 8, với tỷ lệ thuyên giảm tổng thể cao hơn ở nhóm dùng lumateperone. Mặc dù các tác dụng phụ như khô miệng, mệt mỏi và run xảy ra thường xuyên hơn, nhưng không có sự gia tăng đáng kể nào về nguy cơ chuyển hóa hoặc tăng cân. Các tác giả đề xuất rằng các nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm những bệnh nhân bị trầm cảm kháng trị, nguy cơ tự tử cao hoặc mắc các bệnh lý tâm thần đi kèm để xác định rõ hơn vai trò của lumateperone trong thực hành lâm sàng.