Ngăn Ngừa Tái Phát Ung Thư Bằng Cemiplimab Ở Bệnh Nhân Đã Phẫu Thuật Cắt Bỏ Ung Thư Biểu Mô Tế Bào Vảy Da
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 19 tháng 9 năm 2025
|
Ung thư biểu mô tế bào vảy da là một trong những dạng ung thư da phổ biến nhất và có thể dễ dàng được kiểm soát bằng phẫu thuật cắt bỏ. Trong trường hợp bệnh tái phát, xạ trị có thể được sử dụng, nhưng thất bại điều trị vẫn có thể xảy ra ở một số bệnh nhân. Vì thế, công ty Sanofi và Regeneron Pharmaceuticals đã tài trợ một nghiên cứu với mục tiêu tìm hiểu việc sử dụng cemiplimab trong điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy da ở những bệnh nhân có khả năng tái phát cao.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 415 người tham gia đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ để điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy da khu trú. Ngoài ra, xạ trị với liều 50 Gy đã được thực hiện cho những bệnh nhân này. Nghiên cứu chỉ tuyển chọn những bệnh nhân có nguy cơ tái phát bệnh cao: những người có hạch bạch huyết bị ảnh hưởng, có dấu hiệu xâm lấn thần kinh, hoặc có khối u nguyên phát T4 (độ dày > 4 mm). Sinh thiết khối u cho thấy khoảng 20% số người tham gia có ít hơn 1% tế bào khối u biểu hiện PD-L1.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc cemiplimab qua đường tĩnh mạch. Thuốc được dùng với liều khởi đầu là 350 mg mỗi ba tuần, tăng gấp đôi lên 700 mg sau 12 tuần. Cemiplimab là một kháng thể có thể liên kết với protein PD-1 và ngăn chặn sự tương tác của nó với PD-L1. Điều này can thiệp vào tác dụng ức chế miễn dịch của khối u, cho phép hệ thống miễn dịch đào thải khối u.
Sau 24 tuần điều trị đầu tiên, các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng cemiplimab làm giảm 68% nguy cơ tái phát bệnh. Phân tích sâu hơn cho thấy cemiplimab có hiệu quả trong việc giảm cả tái phát tại chỗ và tái phát xa. Ngoài ra, thuốc có hiệu quả tương tự ở những bệnh nhân có khối u biểu hiện PD-L1 ở các mức độ khác nhau. Khoảng 10% số người được điều trị bằng cemiplimab đã ngừng điều trị do các tác dụng phụ, với tần suất suy giáp và phát ban dát sẩn cao hơn so với những người được điều trị bằng giả dược.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 415 người tham gia đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ để điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy da khu trú. Ngoài ra, xạ trị với liều 50 Gy đã được thực hiện cho những bệnh nhân này. Nghiên cứu chỉ tuyển chọn những bệnh nhân có nguy cơ tái phát bệnh cao: những người có hạch bạch huyết bị ảnh hưởng, có dấu hiệu xâm lấn thần kinh, hoặc có khối u nguyên phát T4 (độ dày > 4 mm). Sinh thiết khối u cho thấy khoảng 20% số người tham gia có ít hơn 1% tế bào khối u biểu hiện PD-L1.
Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc cemiplimab qua đường tĩnh mạch. Thuốc được dùng với liều khởi đầu là 350 mg mỗi ba tuần, tăng gấp đôi lên 700 mg sau 12 tuần. Cemiplimab là một kháng thể có thể liên kết với protein PD-1 và ngăn chặn sự tương tác của nó với PD-L1. Điều này can thiệp vào tác dụng ức chế miễn dịch của khối u, cho phép hệ thống miễn dịch đào thải khối u.
Sau 24 tuần điều trị đầu tiên, các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng cemiplimab làm giảm 68% nguy cơ tái phát bệnh. Phân tích sâu hơn cho thấy cemiplimab có hiệu quả trong việc giảm cả tái phát tại chỗ và tái phát xa. Ngoài ra, thuốc có hiệu quả tương tự ở những bệnh nhân có khối u biểu hiện PD-L1 ở các mức độ khác nhau. Khoảng 10% số người được điều trị bằng cemiplimab đã ngừng điều trị do các tác dụng phụ, với tần suất suy giáp và phát ban dát sẩn cao hơn so với những người được điều trị bằng giả dược.