​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Điều Trị Ung Thư Vú Tái Phát Hoặc Di Căn Bằng Vepdegestrant, Một Chất Suy Giảm Thụ Thể Estrogen

Picture
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 25 tháng 8 năm 2025
Picture

Phần lớn các khối u ung thư vú đều biểu hiện thụ thể estrogen trên bề mặt và không có thụ thể cho yếu tố tăng trưởng biểu bì người (HER2). Để điều trị dạng ung thư này, chữa trị nội tiết được kết hợp với thuốc ức chế CDK4/6. Nhưng tình trạng kháng thuốc tạo ra thách thức lớn cho việc kiểm soát tiến triển của bệnh. Với sự tài trợ từ Pfizer, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng vepdegestran trong điều trị ung thư vú tiến triển.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 624 người tham gia được chẩn đoán mắc ung thư vú không thể phẫu thuật cắt bỏ hoặc điều trị bằng xạ trị. Nghiên cứu chỉ bao gồm những bệnh nhân có khối u biểu hiện thụ thể estrogen nhưng không có HER2. Những người tham gia trước đó đã được điều trị bằng liệu pháp ức chế CDK4/6 kết hợp với liệu pháp nội tiết, hầu hết dưới dạng palbociclib và chất ức chế aromatase.

Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng fulvestrant hoặc vepdegestran. Thuốc fulvestrant được tiêm bắp với liều 500 mg mỗi 28 ngày. Trong khi vepdegestran có thể được dùng đường uống, với liều hàng ngày là 200 mg. Cả hai loại thuốc đều nhắm mục tiêu cụ thể vào thụ thể estrogen, với fulvestrant hoạt động như một chất đối kháng, ngăn chặn tín hiệu hạ lưu và dẫn đến sự thoái hóa của thụ thể. Vepdegestran không bị ảnh hưởng bởi khả năng kháng thuốc của khối u; thuốc trực tiếp đánh dấu thụ thể estrogen để phân hủy bởi proteasome.

Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng không có sự khác biệt đáng kể về thời gian sống không tiến triển giữa những bệnh nhân được điều trị bằng fulvestrant và vepdegestran. Thêm vào đó, vepdegestran làm giảm đáng kể sự tiến triển của bệnh và tăng tỷ lệ sống ở những bệnh nhân có đột biến ESR1 đối với thụ thể estrogen. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng các thụ thể có đột biến ESR1 biểu hiện độ nhạy cảm cao hơn với estrogen. Với các ca bệnh không bị đột biến, các đường truyền tính hiệu khác bị ảnh hưởng. Phân tích tác dụng phụ cho thấy vepdegestran kém dung nạp hơn và dẫn đến nhiều trường hợp ngừng điều trị hơn.


  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues