Điều Trị Ung Thư Dạ Dày Dương Tính Với HER2 Bằng Trastuzumab Deruxtecan
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 13 tháng 8 năm 2025
|
Ung thư dạ dày là một trong những loại ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam và có thể giảm chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đáng kể. Các nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng từ 5% đến 17% khối u ung thư dạ dày biểu hiện thụ thể cho yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2). Công ty dược phẩm Daiichi Sankyo và AstraZeneca đã đồng tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tận dụng mục tiêu điều trị này - sử dụng trastuzumab deruxtecan để điều trị ung thư dạ dày.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 494 người tham gia được chẩn đoán mắc ung thư không thể cắt bỏ hoặc di căn. 60% số người tham gia có khối u nằm trong dạ dày, và số còn lại nằm ở nơi giao nhau giữa thực quản và dạ dày. Phân tích khối u đã được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả bệnh nhân đều dương tính với HER2, với khoảng 84% số người tham gia có điểm số miễn dịch mô học IHC là 3+.
Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng liệu pháp phối hợp tiêu chuẩn hoặc trastuzumab deruxtecan. Liệu pháp phối hợp bao gồm ramucirumab, một kháng thể làm chậm quá trình hình thành mạch bằng cách nhắm vào các thụ thể yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, và paclitaxel, một thuốc kháng tubulin can thiệp vào quá trình phân chia tế bào. Thuốc thử nghiệm, trastuzumab deruxtecan, là một hợp chất liên hợp với 2 thành phần. Thuốc bao gồm một kháng thể nhắm vào HER-2 và một tác nhân trung hòa khả năng sao chép axit nucleic của tế bào bằng cách ức chế topoisomerase.
Sau hơn 33 tháng, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng trastuzumab deruxtecan làm giảm nguy cơ tử vong và tiến triển bệnh khoảng 25%. Nhiều bệnh nhân được điều trị bằng trastuzumab deruxtecan có khối u giảm dung lượng hơn so với những bệnh nhân được điều trị bằng phối hợp ramucirumab-paclitaxel. Các tác dụng phụ tương tự giữa hai nhóm. Nhưng các bệnh nhân được điều trị bằng trastuzumab deruxtecan báo cáo tần suất buồn nôn, nôn, tăng men gan, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu cao hơn. Các tác giả lưu ý rằng nghiên cứu trước đây đã phát hiện trastuzumab deruxtecan làm tăng nguy cơ mắc bệnh phổi kẽ và viêm phổi, điều này đã được thể hiện trong kết quả của nghiên cứu này.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 494 người tham gia được chẩn đoán mắc ung thư không thể cắt bỏ hoặc di căn. 60% số người tham gia có khối u nằm trong dạ dày, và số còn lại nằm ở nơi giao nhau giữa thực quản và dạ dày. Phân tích khối u đã được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả bệnh nhân đều dương tính với HER2, với khoảng 84% số người tham gia có điểm số miễn dịch mô học IHC là 3+.
Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng liệu pháp phối hợp tiêu chuẩn hoặc trastuzumab deruxtecan. Liệu pháp phối hợp bao gồm ramucirumab, một kháng thể làm chậm quá trình hình thành mạch bằng cách nhắm vào các thụ thể yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu, và paclitaxel, một thuốc kháng tubulin can thiệp vào quá trình phân chia tế bào. Thuốc thử nghiệm, trastuzumab deruxtecan, là một hợp chất liên hợp với 2 thành phần. Thuốc bao gồm một kháng thể nhắm vào HER-2 và một tác nhân trung hòa khả năng sao chép axit nucleic của tế bào bằng cách ức chế topoisomerase.
Sau hơn 33 tháng, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng trastuzumab deruxtecan làm giảm nguy cơ tử vong và tiến triển bệnh khoảng 25%. Nhiều bệnh nhân được điều trị bằng trastuzumab deruxtecan có khối u giảm dung lượng hơn so với những bệnh nhân được điều trị bằng phối hợp ramucirumab-paclitaxel. Các tác dụng phụ tương tự giữa hai nhóm. Nhưng các bệnh nhân được điều trị bằng trastuzumab deruxtecan báo cáo tần suất buồn nôn, nôn, tăng men gan, giảm bạch cầu và giảm tiểu cầu cao hơn. Các tác giả lưu ý rằng nghiên cứu trước đây đã phát hiện trastuzumab deruxtecan làm tăng nguy cơ mắc bệnh phổi kẽ và viêm phổi, điều này đã được thể hiện trong kết quả của nghiên cứu này.