Bổ Sung Inavolisib vào Liệu Trình Palbociclib-Fulvestrant Để Điều Trị Ung Thư Ngực
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 1 tháng 8 năm 2025
|
Ung thư ngực dương tính với thụ thể hormone có cơ chế sinh bệnh phức tạp với nhiều quá trình hình sinh học thành khối u. Ba phương pháp hình thành khối ưu quan trọng bao gồm thụ thể estrogen, CDK4/6 và phosphatidylinositol 3-kinase (PI3K). Trong số đó, đột biến của PI3K dưới dạng PIK3CA được tìm thấy ở 40% bệnh nhân và có liên quan đến tiên lượng xấu. Với sự tài trợ từ Roche, một nghiên cứu đã được tiến hành để tìm hiểu việc bổ sung inavolisib vào liệu pháp điều trị ung thư vú hiện tại.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại 28 quốc gia khác nhau và bao gồm 161 người tham gia mắc ung thư vú di căn hoặc tiến triển tại chỗ. Thử nghiệm bao gồm những bệnh nhân được sinh thiết khối u có đột biến PIK3CA, có thụ thể hormone nhưng không có đột biến HER2. Tất cả bệnh nhân đều được điều trị bằng liệu pháp tiêu chuẩn palbociclib 125 mg và fulvestrant 500 mg. Sau đó, những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng 9 mg inavolisib hoặc giả dược. Inavolisib hoạt động bằng cách liên kết với tiểu đơn vị xúc tác p110α đột biến của enzyme phosphatidylinositol 3-kinase. Tương tác này ức chế các tín hiệu tăng trưởng và sinh tồn ở hạ lưu.
Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng việc bổ sung inavolisib vào phác đồ điều trị chuẩn palbociclib-fulvestrant làm giảm đáng kể nguy cơ tử vong 33% và tăng thời gian sống trung bình. Bệnh tiến triển nặng hơn ở những bệnh nhân chỉ được điều trị bằng liệu pháp palbociclib-fulvestrant. Tuy nhiên, việc sử dụng inavolisib có liên quan đến các tác dụng phụ nghiêm trọng hơn và với tần suất cao hơn. Việc này dẫn đến việc ngừng thuốc ở 6,8% bệnh nhân, cao hơn đáng kể so với 0,6% ở nhóm giả dược. Độc tính trên mắt và tác dụng phụ trên đường tiêu hóa xảy ra nhiều hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng inavolisib.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại 28 quốc gia khác nhau và bao gồm 161 người tham gia mắc ung thư vú di căn hoặc tiến triển tại chỗ. Thử nghiệm bao gồm những bệnh nhân được sinh thiết khối u có đột biến PIK3CA, có thụ thể hormone nhưng không có đột biến HER2. Tất cả bệnh nhân đều được điều trị bằng liệu pháp tiêu chuẩn palbociclib 125 mg và fulvestrant 500 mg. Sau đó, những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng 9 mg inavolisib hoặc giả dược. Inavolisib hoạt động bằng cách liên kết với tiểu đơn vị xúc tác p110α đột biến của enzyme phosphatidylinositol 3-kinase. Tương tác này ức chế các tín hiệu tăng trưởng và sinh tồn ở hạ lưu.
Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng việc bổ sung inavolisib vào phác đồ điều trị chuẩn palbociclib-fulvestrant làm giảm đáng kể nguy cơ tử vong 33% và tăng thời gian sống trung bình. Bệnh tiến triển nặng hơn ở những bệnh nhân chỉ được điều trị bằng liệu pháp palbociclib-fulvestrant. Tuy nhiên, việc sử dụng inavolisib có liên quan đến các tác dụng phụ nghiêm trọng hơn và với tần suất cao hơn. Việc này dẫn đến việc ngừng thuốc ở 6,8% bệnh nhân, cao hơn đáng kể so với 0,6% ở nhóm giả dược. Độc tính trên mắt và tác dụng phụ trên đường tiêu hóa xảy ra nhiều hơn ở những bệnh nhân được điều trị bằng inavolisib.