​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Kết hợp Pembrolizumab với hóa xạ trị tiêu chuẩn để điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 25 tháng 7 năm 2025
Picture

Những tiến bộ hạn chế trong nỗ lực cải thiện điều trị ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ (HNSCC) tiến triển tại chỗ có thể cắt bỏ. Liệu pháp xạ trị và cisplatin tiêu chuẩn hiện nay không hiệu quả và không ngăn ngừa được bệnh tái phát ở một lượng lớn bệnh nhân. Pembrolizumab đã được chứng minh là có hiệu quả trong điều trị HNSCC di căn và tái phát; do đó, Merck đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm tìm hiểu khả năng điều chỉnh pembrolizumab cho giai đoạn bệnh sớm hơn.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 714 người tham gia với độ tuổi trung bình 60, gần đây được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ khu trú. Khối u nguyên phát có thể được phát hiện trong khoang miệng của 60% nhóm bệnh nhân. Sinh thiết khối u đã được thực hiện để đánh giá mức độ biểu hiện PD-1L, với chỉ khoảng 4% bệnh nhân có tỷ lệ biểu hiện dưới 1%.

Tùy thuộc vào nhóm điều trị mà bệnh nhân được phân ngẫu nhiên, họ sẽ được truyền giả dược hoặc 200 mg pembrolizumab. Liệu trình truyền tân bổ trợ này bao gồm 2 đợt, mỗi đợt cách nhau 3 tuần. Sau đó, phẫu thuật sẽ được thực hiện để cắt bỏ khối u. Dựa trên mức độ lan rộng hạch của khối u, những bệnh nhân có nguy cơ tái phát bệnh thấp hơn sẽ được xạ trị với tổng liều 60 Gy. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ tái phát bệnh cao hơn, tổng liều xạ trị được tăng lên 66 Gy kết hợp với 3 đợt truyền cisplatin với liều 100 mg trên một mét vuông diện tích bề mặt cơ thể.

Giả dược hoặc pembrolizumab với liều 200 mg cũng được sử dụng sau phẫu thuật. Truyền dịch được thực hiện ba tuần một lần, tổng cộng 12 đợt. Pembrolizumab là một chất ức chế can thiệp vào sự tương tác giữa PDL1 và thụ thể PD-1. Điều này ngăn chặn tác dụng ức chế miễn dịch mà khối u có thể gây ra để tránh bị các tế bào miễn dịch thanh thải. Sau 36 tháng, các nhà nghiên cứu nhận thấy pembrolizumab giúp ngăn ngừa nguy cơ tái phát, tiến triển hoặc tử vong của bệnh tới 34%. Phân tích tác dụng phụ cho thấy pembrolizumab có liên quan đến tần suất độc tính qua trung gian miễn dịch cao hơn.


  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues