​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Kiểm soát tình trạng viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa bằng Efruxifermin

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 11 tháng 7 năm 2025
Picture

Do tỷ lệ béo phì gia tăng ở Việt Nam, các bác sĩ cần chuẩn bị cho sự gia tăng song song các ca viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa (MASH). Bên cạnh các biện pháp can thiệp về chế độ ăn uống và thay đổi lối sống, có một số liệu pháp khả thi dưới dạng thuốc chủ vận GLP-1 và resmetiron; tuy nhiên, nhu cầu về các phương pháp điều trị khác để điều trị cho những bệnh nhân không thể điều trị bằng các lựa chọn còn lại ngày càng tăng. Với sự tài trợ từ Akero Therapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá việc sử dụng efruxifermin để kiểm soát MASH.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 bao gồm 181 người tham gia với độ tuổi trung bình là 60, được chẩn đoán mắc viêm gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa. Ngoài ra, những bệnh nhân này cũng bị xơ gan mất bù với điểm Child-Pugh từ 5 đến 6. Đánh giá lâm sàng về tình trạng viêm, nhiễm mỡ và phình mạch bằng thang điểm hoạt động NAFLD cho kết quả điểm trung bình là 3,9, với 8 là dạng bệnh nghiêm trọng nhất. Phân tích dấu ấn sinh hóa ban đầu đã được thực hiện, cho kết quả nồng độ alanine aminotransferase và aspartate aminotransferase trung bình lần lượt là 39,6 và 36,7 U/lít.

Những người tham gia được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng giả dược hoặc efruxifermin. Thuốc được tiêm dưới da một lần mỗi tuần và thử nghiệm hai mức liều efruxifermin: 28 mg và 50 mg. Efruxifermin là một chất tương tự yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi 21 (FGF21), và nghiên cứu trước đây đã phát hiện ra rằng FGF21 có thể điều chỉnh chuyển hóa glucose và lipid. Với đặc tính chống xơ hóa, thuốc được giả thuyết là có thể làm giảm quá trình xơ hóa trong tế bào gan.

Sau 96 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 29% bệnh nhân được điều trị bằng 50 mg efruxifermin đã trải qua ít nhất một giai đoạn giảm xơ hóa. Lợi ích lâm sàng này được quan sát thấy ở mức độ thấp hơn, chỉ 20% ở nhóm dùng 28 mg. Ngoài ra, efruxifermin còn làm giảm đáng kể cholesterol LDL và tình trạng cứng gan, được đo bằng phương pháp đo độ đàn hồi thoáng qua. Giảm alanine aminotransferase và aspartate aminotransferase cũng được ghi nhận sau 16 tuần điều trị và duy trì trong suốt thời gian nghiên cứu, nhưng sự khác biệt này chưa có kết luận. Phân tích an toàn cho thấy tỷ lệ ngừng thuốc do tác dụng phụ cao hơn ở những bệnh nhân được liều 50 mg efruxifermin, và kích ứng đường tiêu hóa được báo cáo thường xuyên nhất. Nghiên cứu ghi nhận rằng 27% người tham gia được điều trị bằng thuốc chủ vận thụ thể GLP-1, nhưng sự phân bố sử dụng thuốc giữa 3 nhóm điều trị khác nhau và không có phân tích phân nhóm nào để tìm hiểu yếu tố này.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues