​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Thuốc kháng CD19 Inebilizumab trong điều trị bệnh nhược cơ

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 7 tháng 7 năm 2025
Picture

Nhược cơ là một bệnh tự miễn, trong đó tế bào B sản xuất kháng thể nhắm vào thụ thể acetylcholine tại điểm nối thần kinh cơ. Bệnh có thể được kiểm soát bằng glucocorticoid kháng viêm và chất ức chế cholinesterase để tăng thời gian truyền tín hiệu tại điểm nối thần kinh cơ. Việc nhắm vào các tế bào B sản xuất tự kháng thể là một lựa chọn khác với rituximab nhắm vào dấu hiệu CD20 trên tế bào B. Inebilizumab là một lựa chọn khả thi khác nhắm vào một dấu hiệu khác trên tế bào B. Amgen đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của thuốc này trong việc kiểm soát nhược cơ.

Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 238 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh nhược cơ toàn thể và có xét nghiệm máu dương tính với kháng thể kháng thụ thể acetylcholine hoặc kháng thể kháng kinase đặc hiệu cơ. Đánh giá bằng thang điểm MG-ADL cho điểm trung bình là 9,1, điểm càng cao nghĩa là bệnh càng suy yếu. Thang điểm MG-ADL có thang điểm từ 0 đến 24, đánh giá ảnh hưởng của bệnh lên các hoạt động sinh hoạt hàng ngày như nhai, nuốt, đánh răng, v.v. Glucocorticoid là phương pháp điều trị ức chế miễn dịch được sử dụng phổ biến nhất, với 93% số người tham gia được điều trị với liều trung bình hàng ngày là 17,5 mg.

Các bệnh nhân được phân ngẫu nhiên để điều trị bằng 300 mg inebilizumab hoặc giả dược. Phương pháp điều trị được tiêm tĩnh mạch vào ngày 1 và ngày 15 của nghiên cứu; đối với những bệnh nhân có tự kháng thể nhắm vào thụ thể acetylcholine, một liều bổ sung được tiêm vào ngày 183. So với các liệu pháp kháng tế bào B khác bằng rituximab, inebilizumab nhắm vào dấu ấn bề mặt CD19 thay vì CD20. Việc nhắm vào CD19 có thể hiệu quả hơn vì tế bào B giảm điều hòa biểu hiện CD20 khi trưởng thành trong khi biểu hiện CD19 được giữ không đổi.

Đánh giá 365 ngày sau lần điều trị đầu tiên cho thấy inebilizumab hiệu quả hơn giả dược trong việc kiểm soát bệnh nhược cơ khi bệnh nhân được điều trị bằng inebilizumab giảm 4,2 điểm trên thang điểm MG-ADL. Đánh giá bằng thang điểm QMG cũng báo cáo sự cải thiện lâm sàng tương tự. Tác dụng mang lại lợi ích này có thể quan sát được ở những bệnh nhân có tự kháng thể nhắm vào thụ thể acetylcholine tại điểm nối thần kinh cơ và những bệnh nhân có tự kháng thể chống lại kinase đặc hiệu cơ. Phân tích tác dụng phụ cho thấy inebilizumab làm tăng tần suất viêm mũi họng và nhiễm trùng đường tiết niệu; tuy nhiên, không có tác dụng phụ nào nghiêm trọng. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng thời gian thử nghiệm không đủ để nghiên cứu tác dụng lâu dài của inebilizumab và cần một thử nghiệm nhãn mở dài hơn.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues