Trimethoprim–Sulfamethoxazole không ngăn ngừa được kết quả sinh nở bất lợi trong thử nghiệm ở Zimbabwe
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 7 năm 2025
|
Các kết quả sinh nở bất lợi chẳng hạn như sinh non và trẻ nhẹ cân, tiếp tục là thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng ở nhiều nơi có nguồn lực hạn chế. Viêm nhiễm và nhiễm trùng ở mẹ—bao gồm vi khuẩn niệu và giang mai—có liên quan đến nguy cơ cao hơn của các kết quả này. Dựa trên mối liên hệ này, các nhà nghiên cứu đã tiến hành một nghiên cứu do Wellcome Trust tài trợ để đánh giá liệu việc sử dụng trimethoprim–sulfamethoxazole dự phòng có thể làm giảm các rủi ro này trong thai kỳ hay không.
Thử nghiệm được tiến hành tại Zimbabwe và tuyển chọn 993 phụ nữ mang thai với độ tuổi trung bình là 24. Tại thời điểm tuyển chọn, 70% đang trong tam cá nguyệt thứ hai, số còn lại được chia đều giữa tam cá nguyệt thứ nhất và thứ ba. Mười ba phần trăm người tham gia dương tính với HIV và hơn 95% trong số những người này đang được điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, với số lượng tế bào CD4 trung bình là khoảng 550 tế bào/μL.
Những người tham gia được phân công ngẫu nhiên để nhận điều trị hàng ngày bằng giả dược hoặc kết hợp trimethoprim (800 mg) và sulfamethoxazole (160 mg). Loại kháng sinh phổ rộng được sử dụng rộng rãi này đã được phát hiện có khả năng điều chỉnh tình trạng viêm toàn thân và viêm ruột. Sau thời gian điều trị trung bình là 21,7 tuần, các nhà nghiên cứu không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào về tỷ lệ sinh non hoặc trẻ nhẹ cân giữa hai nhóm. Các tác giả lưu ý rằng những phát hiện này khác với một nghiên cứu trước đây ở Zambia, cho thấy lợi ích ở những phụ nữ nhiễm HIV có số lượng CD4 thấp. Điều này cho thấy dân số bệnh nhân và tình trạng miễn dịch có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.
Thử nghiệm được tiến hành tại Zimbabwe và tuyển chọn 993 phụ nữ mang thai với độ tuổi trung bình là 24. Tại thời điểm tuyển chọn, 70% đang trong tam cá nguyệt thứ hai, số còn lại được chia đều giữa tam cá nguyệt thứ nhất và thứ ba. Mười ba phần trăm người tham gia dương tính với HIV và hơn 95% trong số những người này đang được điều trị bằng thuốc kháng vi-rút, với số lượng tế bào CD4 trung bình là khoảng 550 tế bào/μL.
Những người tham gia được phân công ngẫu nhiên để nhận điều trị hàng ngày bằng giả dược hoặc kết hợp trimethoprim (800 mg) và sulfamethoxazole (160 mg). Loại kháng sinh phổ rộng được sử dụng rộng rãi này đã được phát hiện có khả năng điều chỉnh tình trạng viêm toàn thân và viêm ruột. Sau thời gian điều trị trung bình là 21,7 tuần, các nhà nghiên cứu không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào về tỷ lệ sinh non hoặc trẻ nhẹ cân giữa hai nhóm. Các tác giả lưu ý rằng những phát hiện này khác với một nghiên cứu trước đây ở Zambia, cho thấy lợi ích ở những phụ nữ nhiễm HIV có số lượng CD4 thấp. Điều này cho thấy dân số bệnh nhân và tình trạng miễn dịch có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.