Lorundrostat cho thấy triển vọng trong điều trị tăng huyết áp kháng thuốc
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 4 tháng 6 năm 2025
|
Mặc dù sử dụng nhiều phác đồ thuốc,nhưng nhiều bệnh nhân bị tăng huyết áp vẫn tiếp tục gặp khó khăn trong việc kiểm soát huyết áp. Nghiên cứu mới cho thấy rối loạn aldosterone có thể là động lực chính gây ra tình trạng tăng huyết áp kháng trị. Với nguồn tài trợ từ Mineralys Therapeutics, một nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá lorundrostat - một chất ức chế aldosterone synthase nhằm kiểm soát huyết áp ở nhóm dân số này.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 đã tuyển chọn 285 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh tăng huyết áp đã dùng hai hoặc ba loại thuốc chống tăng huyết áp. Mặc dù có các liệu pháp này, những người tham gia vẫn kiểm soát huyết áp kém với huyết áp tâm thu/tâm trương lưu động trung bình 24 giờ là 141/86 mmHg. Để chuẩn hóa phương pháp điều trị, các loại thuốc hiện có đã bị ngừng sử dụng và thay thế bằng phác đồ kết hợp bao gồm olmesartan, indapamide, hydrochlorothiazide và amlodipine, do bác sĩ điều trị chỉ định. Sau đó, những người tham gia được phân ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc lorundrostat, dùng hàng ngày với liều cố định 50 mg hoặc tăng liều lên 100 mg sau bốn tuần.
Lorundrostat hoạt động bằng cách ức chế aldosterone synthase, enzyme tuyến thượng thận chịu trách nhiệm sản xuất aldosterone—một loại hormone làm tăng tái hấp thu natri và làm tăng huyết áp. Không giống như các chất đối kháng thụ thể mineralocorticoid, ngăn chặn tác dụng của aldosterone nhưng giữ nguyên nồng độ của nó (thường dẫn đến các tác dụng phụ ngoài mục tiêu), lorundrostat trực tiếp ức chế quá trình tổng hợp hormone.
Sau 12 tuần, lorundrostat làm giảm đáng kể huyết áp tâm thu khoảng 8 mmHg so với giả dược, sau khi điều chỉnh các biến số gây nhiễu. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này có liên quan đến tỷ lệ hạ natri máu và tăng kali máu tăng. Người ta cũng quan sát thấy sự suy giảm tỷ lệ lọc cầu thận ước tính (eGFR), mặc dù tác dụng thận lâu dài của lorundrostat và các tác nhân tương tự vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Các chất ức chế aldosterone synthase khác, chẳng hạn như baxdrostat (đã thử nghiệm) và vicadrostat (đang nghiên cứu), có thể tạo cơ hội cho các thử nghiệm so sánh để xác định rõ hơn các hốc điều trị của chúng.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 đã tuyển chọn 285 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh tăng huyết áp đã dùng hai hoặc ba loại thuốc chống tăng huyết áp. Mặc dù có các liệu pháp này, những người tham gia vẫn kiểm soát huyết áp kém với huyết áp tâm thu/tâm trương lưu động trung bình 24 giờ là 141/86 mmHg. Để chuẩn hóa phương pháp điều trị, các loại thuốc hiện có đã bị ngừng sử dụng và thay thế bằng phác đồ kết hợp bao gồm olmesartan, indapamide, hydrochlorothiazide và amlodipine, do bác sĩ điều trị chỉ định. Sau đó, những người tham gia được phân ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc lorundrostat, dùng hàng ngày với liều cố định 50 mg hoặc tăng liều lên 100 mg sau bốn tuần.
Lorundrostat hoạt động bằng cách ức chế aldosterone synthase, enzyme tuyến thượng thận chịu trách nhiệm sản xuất aldosterone—một loại hormone làm tăng tái hấp thu natri và làm tăng huyết áp. Không giống như các chất đối kháng thụ thể mineralocorticoid, ngăn chặn tác dụng của aldosterone nhưng giữ nguyên nồng độ của nó (thường dẫn đến các tác dụng phụ ngoài mục tiêu), lorundrostat trực tiếp ức chế quá trình tổng hợp hormone.
Sau 12 tuần, lorundrostat làm giảm đáng kể huyết áp tâm thu khoảng 8 mmHg so với giả dược, sau khi điều chỉnh các biến số gây nhiễu. Tuy nhiên, phương pháp điều trị này có liên quan đến tỷ lệ hạ natri máu và tăng kali máu tăng. Người ta cũng quan sát thấy sự suy giảm tỷ lệ lọc cầu thận ước tính (eGFR), mặc dù tác dụng thận lâu dài của lorundrostat và các tác nhân tương tự vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Các chất ức chế aldosterone synthase khác, chẳng hạn như baxdrostat (đã thử nghiệm) và vicadrostat (đang nghiên cứu), có thể tạo cơ hội cho các thử nghiệm so sánh để xác định rõ hơn các hốc điều trị của chúng.