​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Liệu pháp kháng IL-5, Mepolizumab, cho thấy triển vọng trong việc quản lý COPD​

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 28 tháng 5 năm 2025
Picture

Viêm thực quản tăng bạch cầu ái toan đóng vai trò quan trọng trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) với interleukin-5 (IL-5) thúc đẩy quá trình trưởng thành và hoạt hóa ái toan. Nhằm đánh giá các phương pháp điều trị, GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu kiểm tra hiệu quả của mepolizumab—một kháng thể đơn dòng kháng IL-5—trong việc kiểm soát COPD.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 804 người tham gia với độ tuổi trung bình là 66, tất cả đều đang được điều trị bằng liệu pháp ba thuốc dạng hít để điều trị COPD. Khi bắt đầu, số lượng ái toan trong máu trung bình là khoảng 480 tế bào trên một microlit. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để tiêm dưới da một liều giả dược hoặc 100 mg mepolizumab bốn tuần một lần. Sau 104 tuần điều trị, mepolizumab đã làm giảm nguy cơ mắc các đợt cấp COPD từ trung bình đến nặng cần phải nhập viện, dùng corticosteroid hoặc kháng sinh 21% so với giả dược. Hơn nữa, thời gian đến đợt cấp đầu tiên đã chậm lại đáng kể ở nhóm dùng mepolizumab. Tuy nhiên, không có cải thiện đáng kể nào được quan sát thấy về mức độ nghiêm trọng của triệu chứng hoặc chất lượng cuộc sống, được đo bằng các công cụ đánh giá SGRQ, E-RS-COPD và CAT. Trong khi mepolizumab cho thấy triển vọng trong việc giảm tần suất đợt cấp, tác động hạn chế của nó đối với kết quả do bệnh nhân báo cáo cho thấy cần phải nghiên cứu thêm. Khi bằng chứng ngày càng tăng ủng hộ vai trò của các chất điều biến viêm loại 2 trong việc quản lý COPD, các nghiên cứu so sánh có thể giúp phân định vai trò điều trị cụ thể của từng tác nhân.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues