​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Brensocatib làm chậm quá trình suy giảm chức năng phổi ở bệnh nhân giãn phế quản

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 16 tháng 5 năm 2025
Picture

Bệnh nhân bị giãn phế quản thường có biểu hiện ho mãn tính và sản xuất đờm quá mức. Sự suy giảm dần dần chức năng phổi liên quan đến căn bệnh này chủ yếu là do tình trạng viêm do bạch cầu trung tính và tổn thương màng nhầy. Các hướng dẫn lâm sàng hiện tại thường khuyến nghị sử dụng các tác nhân hoạt hóa chất nhầy để làm giảm các triệu chứng và kháng sinh để ngăn ngừa nhiễm trùng do vi khuẩn. Gần đây, một nghiên cứu do Insmed tài trợ và được công bố trên Tạp chí Y học New England đã xem xét việc sử dụng brensocatib - một loại thuốc nhằm mục đích kiểm soát tình trạng giãn phế quản bằng cách ức chế hoạt động của bạch cầu trung tính.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 này đã tuyển dụng 1.721 người tham gia được xác nhận bị giãn phế quản dựa trên chụp cắt lớp vi tính (CT). Để tập trung hoàn toàn vào tình trạng giãn phế quản, những người mắc bệnh xơ nang, hen suyễn hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính đồng thời đã bị loại trừ. Đánh giá bằng Bronchiectasis Severity Index (Chỉ số mức độ nghiêm trọng của giãn phế quản) cho thấy điểm trung bình là 7,1 trên mức tối đa là 9, cho thấy bệnh ở mức độ từ trung bình đến nặng. Hầu như tất cả những người tham gia đều đã trải qua ít nhất hai đợt bùng phát trong năm trước và khoảng một phần tư đã phải nhập viện trong vòng hai năm qua.

Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc một trong hai liều brensocatib—10 mg hoặc 25 mg—dùng một lần mỗi ngày trong 52 tuần. Brensocatib là chất ức chế phân tử nhỏ nhắm chọn lọc vào dipeptidyl peptidase 1 (DPP1), một loại enzyme cần thiết để kích hoạt protease serine của bạch cầu trung tính trong quá trình trưởng thành của tế bào., Thuốc ngăn chặn quá trình chuyển đổi tiền chất protease thành dạng hoạt động của chúng bằng cách ức chế DPP1, do đó làm giảm tình trạng viêm đường thở do bạch cầu trung tính gây ra và tổn thương mô.

Sau một năm điều trị, brensocatib được phát hiện có tác dụng làm giảm 21% nguy cơ bùng phát bệnh phổi, không có sự khác biệt đáng kể nào về kết quả này giữa nhóm dùng 10 mg và 25 mg. Tuy nhiên, những bệnh nhân dùng liều 25 mg biểu hiện tình trạng suy giảm phổi ít hơn đáng kể so với cả nhóm dùng liều 10 mg và nhóm dùng giả dược; kết luận này được đo bằng thể tích thở ra gắng sức trong một giây sau khi dùng thuốc giãn phế quản (FEV1). Các tác giả cho rằng việc bảo tồn chức năng phổi được quan sát thấy có thể là do tình trạng viêm đường thở giảm và bảo vệ tính toàn vẹn của cấu trúc đường thở.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues