Hiệu quả của Gepotidacin so với Nitrofurantoin trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu dưới
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 5 tháng 5 năm 2025
|
Nhiễm trùng đường tiết niệu dưới cực kỳ phổ biến với khoảng một nửa số phụ nữ trên toàn thế giới báo cáo ít nhất một lần trong đời. Mặc dù những bệnh nhiễm trùng này thường có thể kiểm soát được bằng thuốc kháng sinh, nhưng việc sử dụng sai trong quá khứ đã góp phần làm gia tăng vấn đề kháng thuốc kháng sinh, làm nổi bật nhu cầu về các phương pháp điều trị mới đó là Gepotidacin. GlaxoSmithKline đã tài trợ cho một nghiên cứu để so sánh hiệu quả của nó với nitrofurantoin trong điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển dụng 1.201 phụ nữ trong tình trạng không mang thai với độ tuổi trung bình là 50, tất cả đều được chẩn đoán mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu trong vòng bốn ngày trước đó. Khoảng 40% người tham gia có tiền sử nhiễm trùng trước đó và khoảng một phần ba báo cáo các triệu chứng nghiêm trọng. Phân tích vi sinh vật cho thấy Escherichia coli là tác nhân gây bệnh tiết niệu chủ yếu, chiếm 90% các trường hợp, tiếp theo là Klebsiella pneumoniae với 3%.
Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng 1500 mg gepotidacin hoặc 100 mg nitrofurantoin, uống hai lần mỗi ngày. Nitrofurantoin là một trong những phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho các bệnh nhiễm trùng liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc và có chức năng ức chế các enzyme vi khuẩn cần thiết cho quá trình tổng hợp và chuyển hóa DNA. Ngược lại, gepotidacin hoạt động bằng cách ức chế enzyme topoisomerase của vi khuẩn, ngăn chặn sự giải phóng siêu xoắn DNA trong quá trình sao chép và phiên mã.
Sau năm ngày điều trị, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tỷ lệ thành công lâm sàng và tỷ lệ thanh thải vi sinh vật là khoảng 50% đối với cả nitrofurantoin và gepotidacin. Thành công trong điều trị này là nhất quán trên các loại vi khuẩn gây bệnh đường tiết niệu khác nhau. Điều quan trọng là nghiên cứu cũng lưu ý rằng gepotidacin có hiệu quả trong điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây bệnh đường tiết niệu kháng fluoroquinolone, trimethoprim-sulfamethoxazole và các chủng kháng nhiều loại thuốc khác.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển dụng 1.201 phụ nữ trong tình trạng không mang thai với độ tuổi trung bình là 50, tất cả đều được chẩn đoán mắc bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu trong vòng bốn ngày trước đó. Khoảng 40% người tham gia có tiền sử nhiễm trùng trước đó và khoảng một phần ba báo cáo các triệu chứng nghiêm trọng. Phân tích vi sinh vật cho thấy Escherichia coli là tác nhân gây bệnh tiết niệu chủ yếu, chiếm 90% các trường hợp, tiếp theo là Klebsiella pneumoniae với 3%.
Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng 1500 mg gepotidacin hoặc 100 mg nitrofurantoin, uống hai lần mỗi ngày. Nitrofurantoin là một trong những phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho các bệnh nhiễm trùng liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc và có chức năng ức chế các enzyme vi khuẩn cần thiết cho quá trình tổng hợp và chuyển hóa DNA. Ngược lại, gepotidacin hoạt động bằng cách ức chế enzyme topoisomerase của vi khuẩn, ngăn chặn sự giải phóng siêu xoắn DNA trong quá trình sao chép và phiên mã.
Sau năm ngày điều trị, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tỷ lệ thành công lâm sàng và tỷ lệ thanh thải vi sinh vật là khoảng 50% đối với cả nitrofurantoin và gepotidacin. Thành công trong điều trị này là nhất quán trên các loại vi khuẩn gây bệnh đường tiết niệu khác nhau. Điều quan trọng là nghiên cứu cũng lưu ý rằng gepotidacin có hiệu quả trong điều trị các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn gây bệnh đường tiết niệu kháng fluoroquinolone, trimethoprim-sulfamethoxazole và các chủng kháng nhiều loại thuốc khác.