Quản lý ung thư vú ER dương tính đột biến ESR1 bằng Imlunestrant & Abemaciclib
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 30 tháng 4 năm 2025
|
Ung thư vú dương tính với thụ thể estrogen (ER) có thể được kiểm soát bằng thuốc đối kháng ER như fulvestrant. Tuy nhiên, yêu cầu tiêm bắp của fulvestrant làm phức tạp quá trình điều trị, đòi hỏi phải đến phòng khám và hạn chế sự tiện lợi của thuốc. Hơn nữa, hiệu quả của thuốc giảm ở những bệnh nhân có đột biến ESR1 trong thụ thể estrogen. Imlunestrant là thuốc đối kháng ER mới hơn và có dạng uống. Để đánh giá hiệu quả của thuốc, Eli Lilly đã tài trợ cho một nghiên cứu kết hợp imlunestrant với abemaciclib trong việc kiểm soát ung thư vú dương tính với ER, âm tính với HER2.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 874 bệnh nhân ung thư vú dương tính với ER, âm tính với HER2, với độ tuổi trung bình là 61; gần 90% đã mãn kinh. Đột biến ESR1 xuất hiện ở 30–40% số người tham gia và khoảng 75% có khối u dương tính với thụ thể progesterone. Hầu hết đã tiếp xúc trước với chất ức chế CDK4/6, chủ yếu là palbociclib, trong khi ít hơn 10% đã từng dùng abemaciclib. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên thành ba nhóm điều trị: liệu pháp nội tiết tiêu chuẩn (exemestane uống hoặc fulvestrant tiêm bắp, theo quyết định của bác sĩ), liệu pháp đơn trị imlunestrant (400 mg uống mỗi ngày) hoặc imlunestrant cộng với abemaciclib (150 mg uống hai lần mỗi ngày). Abemaciclib là chất ức chế CDK4/6 có tác dụng ức chế sự tăng sinh tế bào khối u và đã được chứng minh là có lợi trong điều trị ung thư vú. Trong số những bệnh nhân có đột biến ESR1, imlunestrant đơn độc kéo dài đáng kể thời gian sống không tiến triển (PFS) lên 5,5 tháng—dài hơn 2,6 tháng so với liệu pháp nội tiết tiêu chuẩn. Các nhà nghiên cứu không thấy lợi ích nào như vậy ở những bệnh nhân không có đột biến ESR1. Đáng chú ý hơn, sự kết hợp của imlunestrant và abemaciclib kéo dài thêm PFS lên 9,4 tháng. Tuy nhiên, phác đồ này có liên quan đến tỷ lệ mắc tác dụng phụ cao hơn, bao gồm mệt mỏi, tiêu chảy, buồn nôn và thiếu máu.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 874 bệnh nhân ung thư vú dương tính với ER, âm tính với HER2, với độ tuổi trung bình là 61; gần 90% đã mãn kinh. Đột biến ESR1 xuất hiện ở 30–40% số người tham gia và khoảng 75% có khối u dương tính với thụ thể progesterone. Hầu hết đã tiếp xúc trước với chất ức chế CDK4/6, chủ yếu là palbociclib, trong khi ít hơn 10% đã từng dùng abemaciclib. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên thành ba nhóm điều trị: liệu pháp nội tiết tiêu chuẩn (exemestane uống hoặc fulvestrant tiêm bắp, theo quyết định của bác sĩ), liệu pháp đơn trị imlunestrant (400 mg uống mỗi ngày) hoặc imlunestrant cộng với abemaciclib (150 mg uống hai lần mỗi ngày). Abemaciclib là chất ức chế CDK4/6 có tác dụng ức chế sự tăng sinh tế bào khối u và đã được chứng minh là có lợi trong điều trị ung thư vú. Trong số những bệnh nhân có đột biến ESR1, imlunestrant đơn độc kéo dài đáng kể thời gian sống không tiến triển (PFS) lên 5,5 tháng—dài hơn 2,6 tháng so với liệu pháp nội tiết tiêu chuẩn. Các nhà nghiên cứu không thấy lợi ích nào như vậy ở những bệnh nhân không có đột biến ESR1. Đáng chú ý hơn, sự kết hợp của imlunestrant và abemaciclib kéo dài thêm PFS lên 9,4 tháng. Tuy nhiên, phác đồ này có liên quan đến tỷ lệ mắc tác dụng phụ cao hơn, bao gồm mệt mỏi, tiêu chảy, buồn nôn và thiếu máu.