So sánh thuốc hạ đường huyết uống và insulin trong bệnh tiểu đường thai kỳ
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 23 tháng 4 năm 2025
|
Insulin từ lâu đã là liệu pháp tiêu chuẩn để kiểm soát lượng đường trong máu ở phụ nữ mắc bệnh tiểu đường thai kỳ. Trong khi các thuốc uống như metformin và glyburide cung cấp một giải pháp thay thế thuận tiện hơn do dễ sử dụng, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đã khuyến cáo không nên sử dụng chúng vì dữ liệu về tính an toàn lâu dài đối với khả năng sinh sản còn hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, Hội đồng Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Quốc gia Úc đã tài trợ cho một nghiên cứu so sánh hiệu quả của thuốc hạ đường huyết dạng uống với insulin để kiểm soát bệnh tiểu đường thai kỳ.
Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Lan và bao gồm 820 phụ nữ mang thai có độ tuổi trung bình là 33,2 tuổi, những người gặp khó khăn trong việc kiểm soát đường huyết. Bệnh tiểu đường thai kỳ được chẩn đoán bằng xét nghiệm dung nạp glucose đường uống hoặc đường cong glucose hàng ngày. Khi bắt đầu, những người tham gia có mức glucose huyết tương lúc đói là khoảng 101 mg/dL và mức glucose sau hai giờ thử thách là 167 mg/dL sau khi nạp 75 g glucose. Trong thử nghiệm nhãn mở này, những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng insulin và được dùng theo hướng dẫn thực hành tại địa phương hoặc metformin làm phương pháp điều trị ban đầu. Metformin được bắt đầu ở mức 500 mg mỗi ngày và có thể tăng lên 1000 mg ba lần mỗi ngày nếu không kiểm soát được đường huyết. Đối với những người không kiểm soát được đường huyết ở liều metformin cao nhất, 2,5 mg glyburide được thêm vào trước mỗi bữa ăn.
Sau khi sinh, các nhà nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể nào giữa hai nhóm về kích thước, cân nặng, điểm APGAR hoặc các biến chứng khác của trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, nhóm điều trị hạ đường huyết bằng đường uống có tỷ lệ hạ đường huyết cao hơn, có thể là do tác dụng của glyburide trong việc thúc đẩy tiết insulin tuyến tụy. Hơn nữa, các tác giả quan sát thấy có tới 26% bệnh nhân dùng metformin và glyburide cần thêm insulin để kiểm soát đường huyết thích hợp. Nghiên cứu có một số hạn chế, bao gồm thiết kế nhãn mở làm tăng nguy cơ sai lệch và khả năng khái quát hóa hạn chế vì nghiên cứu chỉ được tiến hành tại Hà Lan. Các nghiên cứu trong tương lai cần giải quyết những hạn chế này.
Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Lan và bao gồm 820 phụ nữ mang thai có độ tuổi trung bình là 33,2 tuổi, những người gặp khó khăn trong việc kiểm soát đường huyết. Bệnh tiểu đường thai kỳ được chẩn đoán bằng xét nghiệm dung nạp glucose đường uống hoặc đường cong glucose hàng ngày. Khi bắt đầu, những người tham gia có mức glucose huyết tương lúc đói là khoảng 101 mg/dL và mức glucose sau hai giờ thử thách là 167 mg/dL sau khi nạp 75 g glucose. Trong thử nghiệm nhãn mở này, những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng insulin và được dùng theo hướng dẫn thực hành tại địa phương hoặc metformin làm phương pháp điều trị ban đầu. Metformin được bắt đầu ở mức 500 mg mỗi ngày và có thể tăng lên 1000 mg ba lần mỗi ngày nếu không kiểm soát được đường huyết. Đối với những người không kiểm soát được đường huyết ở liều metformin cao nhất, 2,5 mg glyburide được thêm vào trước mỗi bữa ăn.
Sau khi sinh, các nhà nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể nào giữa hai nhóm về kích thước, cân nặng, điểm APGAR hoặc các biến chứng khác của trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, nhóm điều trị hạ đường huyết bằng đường uống có tỷ lệ hạ đường huyết cao hơn, có thể là do tác dụng của glyburide trong việc thúc đẩy tiết insulin tuyến tụy. Hơn nữa, các tác giả quan sát thấy có tới 26% bệnh nhân dùng metformin và glyburide cần thêm insulin để kiểm soát đường huyết thích hợp. Nghiên cứu có một số hạn chế, bao gồm thiết kế nhãn mở làm tăng nguy cơ sai lệch và khả năng khái quát hóa hạn chế vì nghiên cứu chỉ được tiến hành tại Hà Lan. Các nghiên cứu trong tương lai cần giải quyết những hạn chế này.