​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Liệu pháp kép với Acalabrutinib và Venetoclax làm giảm tử vong và tiến triển bệnh ở bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu lymphocytic mãn tính

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 24 tháng 3 năm 2025
Picture

Bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính hiện đang được điều trị bằng các phác đồ kết hợp bao gồm các liệu pháp miễn dịch hóa học có mục tiêu như chất ức chế tyrosine kinase Bruton, chất ức chế Bcl-2 và kháng thể anti-CD20, cùng các loại khác. Các phương pháp điều trị này đã cải thiện đáng kể khả năng sống sót và làm chậm tiến triển của bệnh, nhưng chúng cũng liên quan đến tình trạng ức chế miễn dịch kéo dài và độc tính tim mạch. Một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ đã so sánh hiệu quả và độ an toàn của acalabrutinib, chất ức chế tyrosine kinase Bruton thế hệ thứ hai, với các phác đồ điều trị hiện tại cho bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 đã tuyển chọn 867 người tham gia chưa từng điều trị được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính, với độ tuổi trung bình là 60. Khoảng 45% trong số những người tham gia này được coi là có nguy cơ cao tiến triển bệnh, được phân loại là Rai giai đoạn III hoặc IV. Nghiên cứu chỉ bao gồm những bệnh nhân có nhiễm sắc thể 17 nguyên vẹn và không có đột biến ở gen TP53. Ngoài ra, xét đến vai trò quan trọng của gen IGHV trong quá trình sinh bệnh của bệnh bạch cầu lymphocytic mạn tính, các đánh giá cho thấy 58,6% bệnh nhân có gen IGHV không đột biến.

Bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên vào một trong ba phác đồ: nhóm liệu pháp kép được dùng acalabrutinib–venetoclax, nhóm liệu pháp ba được điều trị bằng acalabrutinib–venetoclax–obinutuzumab và nhóm đối chứng được dùng liệu pháp miễn dịch hóa học tiêu chuẩn (fludarabine–cyclophosphamide–rituximab hoặc bendamustine–rituximab). Thuốc mới đang được nghiên cứu, acalabrutinib, là một phân tử nhỏ liên kết và ức chế tyrosine kinase Bruton, một chất trung gian chính trong quá trình truyền tín hiệu và tăng sinh tế bào B. Thuốc được tiêm tĩnh mạch với liều 100 mg sau mỗi 28 ngày, tổng cộng là 14 liều.

Đến tháng thứ 36, các nhà nghiên cứu quan sát thấy rằng sự kết hợp acalabrutinib và venetoclax làm giảm nguy cơ tử vong hoặc tiến triển bệnh 35% so với liệu pháp hóa miễn dịch tiêu chuẩn. Phân tích phân nhóm so sánh bệnh nhân có IGHV bình thường với đột biến cho thấy không có sự khác biệt đáng kể nào về hiệu quả. Về mặt an toàn, giảm bạch cầu trung tính là tác dụng phụ được báo cáo phổ biến nhất, mặc dù tần suất của nó thấp hơn ở nhóm liệu pháp kép so với nhóm liệu pháp ba và nhóm liệu pháp hóa miễn dịch.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues