Kiểm soát bệnh viêm loét đại tràng bằng cách chặn S1PR1 bằng Tamuzimod
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 7 tháng 3 năm 2025
|
Viêm loét đại tràng là một tình trạng tự miễn dịch, trong đó các tế bào miễn dịch gây ra tình trạng viêm quá mức ở ruột già. Các tế bào này được dẫn đến mô bị viêm bằng một gradient sphingosine 1-phosphate. Mặc dù ức chế con đường này đã cho thấy hiệu quả trong điều trị bệnh đa xơ cứng, nhưng ức chế không chọn lọc có thể dẫn đến tỷ lệ mắc các tác dụng phụ cao hơn. Tamuzimod - một chất ức chế có mục tiêu hơn, gần đây đã được đánh giá trong một nghiên cứu của Lancet về khả năng kiểm soát viêm loét đại tràng.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 đã tuyển dụng 213 cá nhân, độ tuổi trung bình là 40,6 tuổi, mỗi người có tiền sử viêm loét đại tràng ít nhất 3 tháng. Sử dụng Điểm Mayo đã sửa đổi, có mức độ nghiêm trọng tối đa là 12, điểm cơ bản trung bình của nhóm là khoảng 6,7. Khoảng 80% người tham gia được điều trị đồng thời bằng axit aminosalicylic và khoảng 25% được dùng corticosteroid. Bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để dùng một liệu trình kéo dài 12 tuần bằng giả dược hoặc tamuzimod ở hai mức liều—60 mg hoặc 30 mg. Tamuzimod nhắm mục tiêu cụ thể vào biến thể S1PR1, với tương tác tối thiểu với S1PR2 và S1PR3, do đó phá vỡ gradient cần thiết để các tế bào miễn dịch tiếp cận vị trí bị viêm, đồng thời giảm khả năng xảy ra các tác dụng phụ nghiêm trọng.
Sau 12 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy tình trạng thuyên giảm lâm sàng xảy ra ở 24% và 28% số người tham gia dùng 30 mg và 60 mg tamuzimod, tương ứng, so với tỷ lệ thuyên giảm 11% ở nhóm dùng giả dược. Những lợi ích này thể hiện rõ qua các cải thiện về triệu chứng, nội soi và mô học. Trong khi việc sử dụng tamuzimod có liên quan đến việc tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp trên và dẫn đến ngừng điều trị ở khoảng 5% số người tham gia, thì các tác dụng phụ như nhịp tim chậm hoặc block nhĩ thất - thường liên quan đến các chất điều biến S1PR khác - không được quan sát thấy.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 đã tuyển dụng 213 cá nhân, độ tuổi trung bình là 40,6 tuổi, mỗi người có tiền sử viêm loét đại tràng ít nhất 3 tháng. Sử dụng Điểm Mayo đã sửa đổi, có mức độ nghiêm trọng tối đa là 12, điểm cơ bản trung bình của nhóm là khoảng 6,7. Khoảng 80% người tham gia được điều trị đồng thời bằng axit aminosalicylic và khoảng 25% được dùng corticosteroid. Bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để dùng một liệu trình kéo dài 12 tuần bằng giả dược hoặc tamuzimod ở hai mức liều—60 mg hoặc 30 mg. Tamuzimod nhắm mục tiêu cụ thể vào biến thể S1PR1, với tương tác tối thiểu với S1PR2 và S1PR3, do đó phá vỡ gradient cần thiết để các tế bào miễn dịch tiếp cận vị trí bị viêm, đồng thời giảm khả năng xảy ra các tác dụng phụ nghiêm trọng.
Sau 12 tuần điều trị, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy tình trạng thuyên giảm lâm sàng xảy ra ở 24% và 28% số người tham gia dùng 30 mg và 60 mg tamuzimod, tương ứng, so với tỷ lệ thuyên giảm 11% ở nhóm dùng giả dược. Những lợi ích này thể hiện rõ qua các cải thiện về triệu chứng, nội soi và mô học. Trong khi việc sử dụng tamuzimod có liên quan đến việc tăng tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp trên và dẫn đến ngừng điều trị ở khoảng 5% số người tham gia, thì các tác dụng phụ như nhịp tim chậm hoặc block nhĩ thất - thường liên quan đến các chất điều biến S1PR khác - không được quan sát thấy.