​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

So sánh hiệu quả và nguy cơ chảy máu của Abelacimab so với Rivaroxaban trong rung nhĩ

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 12 tháng 2 năm 2025
Picture

Rung nhĩ là dạng loạn nhịp tim phổ biến nhất, đặc trưng bởi các cơn co thắt nhĩ bất thường và nhanh. Việc thiếu phối hợp giữa các buồng tim này tạo ra dòng máu hỗn loạn, dẫn đến sự kết tụ của các tế bào hồng cầu và tạo thành cục máu đông. Do đó, bệnh nhân bị rung nhĩ phải đối mặt với nguy cơ đột quỵ tăng gấp năm lần. Tình trạng này hiện đang được điều trị bằng thuốc chống đông máu, chẳng hạn như rivaroxaban. Một nghiên cứu do Anthos Therapeutics tài trợ đã được tiến hành để so sánh hiệu quả của abelacimab với phác đồ chuẩn hiện tại trong việc giảm nguy cơ biến chứng tim mạch liên quan đến rung nhĩ.

Thử nghiệm lâm sàng có sự tham gia của 1.287 người tham gia từ 55 tuổi trở lên đã được chẩn đoán mắc rung nhĩ. Hơn 90% bệnh nhân đã được điều trị bằng thuốc chống đông máu trong hơn 60 ngày, với hai phần ba sử dụng thuốc chống đông máu đường uống trực tiếp và một phần ba sử dụng thuốc đối kháng vitamin K. Ngoài ra, khoảng một phần tư nhóm đối tượng sử dụng thuốc chống tiểu cầu, trong đó aspirin là loại thuốc được sử dụng phổ biến nhất, tiếp theo là thuốc ức chế P2Y12.

Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để điều trị bằng thuốc chống đông tiêu chuẩn hiện tại, rivaroxaban hoặc abelacimab. Thuốc trước được dùng đường uống với liều hàng ngày là 20 mg, trong khi hai liều abelacimab - 90 mg hoặc 150 mg, được tiêm dưới da một lần mỗi tháng. Abelacimab là một kháng thể có thể liên kết và trung hòa cả dạng hoạt hóa và bất hoạt của các yếu tố đông máu XI, ngăn không cho protein này tham gia vào chuỗi phản ứng đông máu.

Do chảy máu là mối quan tâm chính khi sử dụng thuốc chống đông, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng abelacimab có liên quan đến nguy cơ chảy máu thấp hơn khoảng 65% so với rivaroxaban. Cụ thể, những bệnh nhân được điều trị bằng abelacimab có nguy cơ chảy máu đường tiêu hóa thấp hơn. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy abelacimab có hiệu quả tương đương với rivaroxaban trong việc ngăn ngừa đột quỵ do thiếu máu cục bộ và thuyên tắc hệ thống. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng quy mô nghiên cứu quá nhỏ để so sánh đầy đủ hiệu quả giữa hai tác nhân.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues