​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Kết quả dài hạn của sự kết hợp Nivolumab và Ipilimumab trong bệnh u hắc tố tiến triển không thể cắt bỏ

Picture
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA 
​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 03 tháng 2 năm 2025
Picture

Sau khi được chấp thuận vào năm 2010, sự kết hợp giữa nivolumab và ipilimumab đã cho thấy kết quả đáng chú ý ở những bệnh nhân mắc bệnh u hắc tố. Nivolumab và ipilimumab hoạt động bằng cách ngăn chặn các protein PD-1 và CTLA-4 mà các tế bào ung thư sử dụng để ức chế phản ứng miễn dịch. Sau khi được chấp thuận, Bristol Myers Squibb đã tài trợ cho một nghiên cứu giám sát để đánh giá kết quả lâu dài của sự kết hợp giữa nivolumab và ipilimumab trong điều trị bệnh u hắc tố.

Nghiên cứu lâm sàng bao gồm 1.296 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh u hắc tố giai đoạn III và IV không thể cắt bỏ. Bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để dùng nivolumab, ipilimumab hoặc kết hợp cả hai. Nivolumab được tiêm tĩnh mạch 2 tuần một lần với liều 3 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể, trong khi ipilimumab được dùng 2 tuần một lần với liều tương tự, nhưng chỉ kéo dài 4 liều. Bệnh nhân trong nhóm liệu pháp kết hợp tuân theo một phác đồ với vài điểm khác biệt, bắt đầu bằng giai đoạn khởi đầu bao gồm 1 mg cho mỗi kg nivolumab và 3 mg cho mỗi kg ipilimumab cứ sau 3 tuần trong 4 liều. Sau đó, bệnh nhân bước vào giai đoạn duy trì, chỉ dùng nivolumab với liều cao hơn là 3 mg cho mỗi kg cứ sau 2 tuần.

Sau 10 năm theo dõi, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng tỷ lệ sống sót đặc hiệu với bệnh u hắc tố ở nhóm liệu pháp kết hợp là 52%, cao hơn đáng kể so với nhóm đơn trị liệu. Ngoài ra, tỷ lệ sống sót không tiến triển sau 3 năm cao hơn ở nhóm liệu pháp kết hợp là 39% và ở mức 31% sau 10 năm. Phân tích nhóm phụ của những bệnh nhân có đột biến BRAF cho thấy tỷ lệ sống sót đặc hiệu với bệnh u hắc tố là 56% ở nhóm liệu pháp kết hợp. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng việc đưa ipilimumab vào phác đồ điều trị có liên quan đến tỷ lệ mắc các tác dụng phụ cao hơn, cho thấy cần phải có các liệu pháp kết hợp thay thế nhắm vào các cơ chế trốn tránh miễn dịch khác trong khối u.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues