Tác động của việc bổ sung Pembrolizumab vào liệu pháp hóa trị dựa trên Platinum đối với sự sống còn ở bệnh ung thư vú bộ ba âm tính
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 15 tháng 1 năm 2025
|
Phương pháp điều trị chuẩn hiện tại đối với nhiễm trùng viêm gan B bao gồm 48 tuần đầu dùng pegylated interferon để kích hoạt phản ứng miễn dịch kháng vi-rút, sau đó là liệu pháp tương tự nucleotide/nucleoside suốt đời. Tuy nhiên, tỷ lệ chữa khỏi sau 12 tháng chỉ là 7%, vì vậy điều này dẫn đến nhu cầu về các liệu pháp mới. Xalnesiran là một RNA can thiệp nhỏ mới nhắm mục tiêu và ức chế biểu hiện của protein S của vi-rút. Một nghiên cứu do Roche tài trợ đã được tiến hành để khám phá tiềm năng sử dụng xalnesiran kết hợp với ruzotolimod - một chất chủ vận TLR-7, như một phương pháp điều trị để chữa khỏi nhiễm trùng viêm gan B.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 159 người tham gia trong độ tuổi từ 18 đến 65, tất cả đều được chẩn đoán mắc viêm gan B và được điều trị bằng entecavir, tenofovir alafenamide hoặc tenofovir disoproxil fumarate trong 12 tháng qua. Mức HBsAg ban đầu trung bình là khoảng 1000 IU/mL và nồng độ DNA HBV trung bình là 10 IU/mL. Hầu hết những người tham gia đều có chức năng gan khỏe mạnh, với mức alanine aminotransferase (ALT) trung bình khoảng 20 IU/mL và chỉ có hai người tham gia có mức ALT vượt quá phạm vi bình thường. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên vào một trong năm nhóm điều trị: 1) 100 mg xalnesiran, 2) 200 mg xalnesiran, 3) 200 mg xalnesiran cộng với 150 mg ruzotolimod, 4) 200 mg xalnesiran cộng với 180 µg peginterferon alfa-2a hoặc 5) giả dược. Tất cả những người tham gia đều tiếp tục liệu pháp kháng vi-rút hiện tại của họ. Xalnesiran được tiêm dưới da 4 tuần một lần và peginterferon alfa-2a được tiêm dưới da hàng tuần. Ruzotolimod được uống cách ngày; tác nhân này hoạt động bằng cách kích hoạt thụ thể TLR-7 để kích hoạt phản ứng miễn dịch bẩm sinh chống lại vi-rút. Quá trình điều trị kéo dài trong 48 tuần, với sự ức chế vi-rút được đánh giá 24 tuần sau khi điều trị, được xác định bằng việc mất HBsAg hoặc nồng độ HBsAg dưới 0,05 IU/mL. Kết quả cho thấy xalnesiran đơn độc dẫn đến ức chế vi-rút ở 7% nhóm 100 mg và 3% nhóm 200 mg. Sự kết hợp của xalnesiran với ruzotolimod đạt được sự ức chế vi-rút ở 17% nhóm, trong khi sự kết hợp với peginterferon alfa-2a đạt được 24%. Phân tích phân nhóm cho thấy xalnesiran, có hoặc không có chất điều hòa miễn dịch, có hiệu quả hơn trong việc đạt được sự ức chế vi-rút ở những bệnh nhân có nồng độ HBsAg ban đầu dưới 1000 IU/mL. Các nhà nghiên cứu khuyến nghị rằng các nghiên cứu trong tương lai nên kéo dài thời gian quan sát để đánh giá độ bền lâu dài của sự ức chế vi-rút và nghiên cứu các chiến lược thay thế cho những bệnh nhân có tải lượng vi-rút ban đầu cao.
Nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 159 người tham gia trong độ tuổi từ 18 đến 65, tất cả đều được chẩn đoán mắc viêm gan B và được điều trị bằng entecavir, tenofovir alafenamide hoặc tenofovir disoproxil fumarate trong 12 tháng qua. Mức HBsAg ban đầu trung bình là khoảng 1000 IU/mL và nồng độ DNA HBV trung bình là 10 IU/mL. Hầu hết những người tham gia đều có chức năng gan khỏe mạnh, với mức alanine aminotransferase (ALT) trung bình khoảng 20 IU/mL và chỉ có hai người tham gia có mức ALT vượt quá phạm vi bình thường. Những người tham gia được phân ngẫu nhiên vào một trong năm nhóm điều trị: 1) 100 mg xalnesiran, 2) 200 mg xalnesiran, 3) 200 mg xalnesiran cộng với 150 mg ruzotolimod, 4) 200 mg xalnesiran cộng với 180 µg peginterferon alfa-2a hoặc 5) giả dược. Tất cả những người tham gia đều tiếp tục liệu pháp kháng vi-rút hiện tại của họ. Xalnesiran được tiêm dưới da 4 tuần một lần và peginterferon alfa-2a được tiêm dưới da hàng tuần. Ruzotolimod được uống cách ngày; tác nhân này hoạt động bằng cách kích hoạt thụ thể TLR-7 để kích hoạt phản ứng miễn dịch bẩm sinh chống lại vi-rút. Quá trình điều trị kéo dài trong 48 tuần, với sự ức chế vi-rút được đánh giá 24 tuần sau khi điều trị, được xác định bằng việc mất HBsAg hoặc nồng độ HBsAg dưới 0,05 IU/mL. Kết quả cho thấy xalnesiran đơn độc dẫn đến ức chế vi-rút ở 7% nhóm 100 mg và 3% nhóm 200 mg. Sự kết hợp của xalnesiran với ruzotolimod đạt được sự ức chế vi-rút ở 17% nhóm, trong khi sự kết hợp với peginterferon alfa-2a đạt được 24%. Phân tích phân nhóm cho thấy xalnesiran, có hoặc không có chất điều hòa miễn dịch, có hiệu quả hơn trong việc đạt được sự ức chế vi-rút ở những bệnh nhân có nồng độ HBsAg ban đầu dưới 1000 IU/mL. Các nhà nghiên cứu khuyến nghị rằng các nghiên cứu trong tương lai nên kéo dài thời gian quan sát để đánh giá độ bền lâu dài của sự ức chế vi-rút và nghiên cứu các chiến lược thay thế cho những bệnh nhân có tải lượng vi-rút ban đầu cao.