Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Amivantamab và Lazertinib trong điều trị NSCLC đột biến EGFR
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 2 tháng 12 năm 2024
|
Đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) thường gặp ở những bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, dẫn đến tỷ lệ sống sót sau 5 năm giảm chỉ còn 19%. Osimertinib là liệu pháp điều trị đầu tay hiện tại cho những bệnh nhân này, hoạt động bằng cách ức chế hoạt động kinase của EGFR (EGFR-TKI). Tuy nhiên, hầu hết bệnh nhân cuối cùng đều phát triển tình trạng kháng osimertinib và các EGFR-TKI thế hệ thứ ba khác. Để giải quyết vấn đề này, Janssen đã tài trợ cho một nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của amivantamab và lazertinib trong điều trị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ có đột biến EGFR.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 liên quan đến 1.074 bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) có đột biến EGFR. Trong số này, 60% bị mất exon 19, trong khi những bệnh nhân còn lại bị đột biến leucine thành arginine ở vị trí thứ 858. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng osimertinib, lazertinib hoặc kết hợp amivantamab và lazertinib. Amivantamab là một kháng thể hai đặc hiệu liên kết với EGFR trên bề mặt tế bào khối u và tuyển dụng các tế bào miễn dịch để bắt đầu phản ứng gây độc tế bào. Lazertinib - một EGFR-TKI thế hệ thứ ba và có hiệu quả chống lại một số phiên bản đột biến của thụ thể EGFR. Amivantamab được dùng theo đường tĩnh mạch với liều 1.050 mg mỗi tuần trong bốn tuần đầu tiên, sau đó thay đổi thành liều mỗi 2 tuần. Osimertinib và lazertinib được dùng đường uống với liều hàng ngày tương ứng là 80 mg và 240 mg. Sau thời gian theo dõi trung bình là 22 tháng, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự kết hợp của amivantamab và lazertinib làm giảm 30% nguy cơ tiến triển của bệnh so với những người được điều trị bằng phác đồ chuẩn của osimertinib. Tuy nhiên, việc sử dụng phối hợp amivantamab-lazertinib làm tăng đáng kể nguy cơ các tác dụng phụ như huyết khối tắc mạch tĩnh mạch và giảm albumin máu, dẫn đến tỷ lệ ngừng điều trị cao hơn. Các tác giả lưu ý rằng các nghiên cứu trong tương lai nên có thời gian theo dõi dài hơn, vì thời lượng của nghiên cứu hiện tại không đủ để đánh giá nguy cơ tử vong giữa các lần điều trị. Ngoài ra, do sử dụng amivantamab đường tĩnh mạch, nghiên cứu không bao gồm nhóm đối chứng giả dược cho nhóm không dùng amivantamab, dẫn đến tác dụng giả dược tiềm ẩn.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 liên quan đến 1.074 bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) có đột biến EGFR. Trong số này, 60% bị mất exon 19, trong khi những bệnh nhân còn lại bị đột biến leucine thành arginine ở vị trí thứ 858. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng osimertinib, lazertinib hoặc kết hợp amivantamab và lazertinib. Amivantamab là một kháng thể hai đặc hiệu liên kết với EGFR trên bề mặt tế bào khối u và tuyển dụng các tế bào miễn dịch để bắt đầu phản ứng gây độc tế bào. Lazertinib - một EGFR-TKI thế hệ thứ ba và có hiệu quả chống lại một số phiên bản đột biến của thụ thể EGFR. Amivantamab được dùng theo đường tĩnh mạch với liều 1.050 mg mỗi tuần trong bốn tuần đầu tiên, sau đó thay đổi thành liều mỗi 2 tuần. Osimertinib và lazertinib được dùng đường uống với liều hàng ngày tương ứng là 80 mg và 240 mg. Sau thời gian theo dõi trung bình là 22 tháng, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự kết hợp của amivantamab và lazertinib làm giảm 30% nguy cơ tiến triển của bệnh so với những người được điều trị bằng phác đồ chuẩn của osimertinib. Tuy nhiên, việc sử dụng phối hợp amivantamab-lazertinib làm tăng đáng kể nguy cơ các tác dụng phụ như huyết khối tắc mạch tĩnh mạch và giảm albumin máu, dẫn đến tỷ lệ ngừng điều trị cao hơn. Các tác giả lưu ý rằng các nghiên cứu trong tương lai nên có thời gian theo dõi dài hơn, vì thời lượng của nghiên cứu hiện tại không đủ để đánh giá nguy cơ tử vong giữa các lần điều trị. Ngoài ra, do sử dụng amivantamab đường tĩnh mạch, nghiên cứu không bao gồm nhóm đối chứng giả dược cho nhóm không dùng amivantamab, dẫn đến tác dụng giả dược tiềm ẩn.