So Sánh Hiệu Quả & An Toàn Của Nivolumab và Brentuximab Vedotin Kết Hợp Với Phác Đồ Chuẩn Điều Trị Bệnh Ung Thư Lympho Hodgkin
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 27 tháng 11 năm 2024
|
Ung thư lympho Hodgkin hiện đang được điều trị bằng nhiều loại thuốc hóa trị và thường được kết hợp với nhiều loại thuốc khác nhau. Trong số đó, brentuximab vedotin đã chứng minh được hiệu quả khi nhắm vào các tế bào khối u thông qua liên kết với CD30, được biểu hiện rộng rãi trên bề mặt của chúng. Tuy nhiên, thuốc này có liên quan đến độc tính đáng kể, đặc biệt là ở bệnh nhi. Các tế bào u lympho Hodgkin cũng biểu hiện mức PD-L1 cao, giúp vô hiệu hóa các tế bào miễn dịch chống khối u, một quá trình có thể được nivolumab nhắm mục tiêu. Viện Y tế Quốc gia đã ủy quyền cho một nghiên cứu để so sánh hiệu quả của brentuximab vedotin và nivolumab khi kết hợp với phác đồ điều trị tiêu chuẩn hiện tại cho u lympho Hodgkin.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 có sự tham gia của 970 người tham gia từ 12 tuổi trở lên, tất cả đều được chẩn đoán mắc u lympho Hodgkin giai đoạn III hoặc IV. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận nivolumab hoặc brentuximab vedotin sau mỗi 28 ngày. Nivolumab được tiêm tĩnh mạch với liều 240 mg cho người lớn và 3 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể cho trẻ em dưới 12 tuổi. Brentuximab vedotin được dùng với liều 1,2 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể. Cả hai nhóm cũng được dùng phác đồ chuẩn gồm doxorubicin, vinblastine và dacarbazine vào ngày thứ 1 và ngày thứ 15 của chu kỳ 28 ngày, với liều lần lượt là 25 mg, 6 mg và 375 mg cho mỗi mét vuông diện tích bề mặt cơ thể. Sau thời gian theo dõi trung bình là 12 tháng, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc bổ sung nivolumab vào phác đồ chuẩn đã cải thiện tỷ lệ sống sót không tiến triển bệnh lên 55%, so với những người được điều trị bằng brentuximab vedotin cộng với phác đồ chuẩn. Nivolumab có liên quan đến ít tác dụng phụ hơn brentuximab vedotin, mặc dù brentuximab vedotin có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh thần kinh ngoại biên cao hơn, trong khi nivolumab có nguy cơ giảm bạch cầu trung tính cao hơn.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 có sự tham gia của 970 người tham gia từ 12 tuổi trở lên, tất cả đều được chẩn đoán mắc u lympho Hodgkin giai đoạn III hoặc IV. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để nhận nivolumab hoặc brentuximab vedotin sau mỗi 28 ngày. Nivolumab được tiêm tĩnh mạch với liều 240 mg cho người lớn và 3 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể cho trẻ em dưới 12 tuổi. Brentuximab vedotin được dùng với liều 1,2 mg cho mỗi kg trọng lượng cơ thể. Cả hai nhóm cũng được dùng phác đồ chuẩn gồm doxorubicin, vinblastine và dacarbazine vào ngày thứ 1 và ngày thứ 15 của chu kỳ 28 ngày, với liều lần lượt là 25 mg, 6 mg và 375 mg cho mỗi mét vuông diện tích bề mặt cơ thể. Sau thời gian theo dõi trung bình là 12 tháng, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc bổ sung nivolumab vào phác đồ chuẩn đã cải thiện tỷ lệ sống sót không tiến triển bệnh lên 55%, so với những người được điều trị bằng brentuximab vedotin cộng với phác đồ chuẩn. Nivolumab có liên quan đến ít tác dụng phụ hơn brentuximab vedotin, mặc dù brentuximab vedotin có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh thần kinh ngoại biên cao hơn, trong khi nivolumab có nguy cơ giảm bạch cầu trung tính cao hơn.