Đánh giá hiệu quả của Durvalumab trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 25 tháng 11 năm 2024
|
Ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm 15% trong tổng số các trường hợp ung thư phổi và hiện đang được điều trị bằng xạ trị ngực và hóa trị platinum-etoposide. Mặc dù có các phương pháp điều trị này, phần lớn bệnh nhân vẫn bị tái phát trong vòng 2 năm, với khoảng 30% ca tử vong trong vòng 5 năm. Durvalumab và tremelimumab là hai kháng thể miễn dịch chống lại tác dụng ức chế miễn dịch của PD-L1 và CTLA-4 trên tế bào ung thư. Các kháng thể này đã cho thấy hiệu quả trong điều trị nhiều loại ung thư bao gồm cả ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Do đó, AstraZeneca đã tài trợ cho một nghiên cứu để đánh giá tiềm năng của chúng trong điều trị ung thư phổi tế bào nhỏ.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 có sự tham gia của 530 người tham gia được chẩn đoán mắc ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn I hoặc II không thể cắt bỏ hoặc bệnh giai đoạn III tiến triển. Những bệnh nhân này đã trải qua hai đợt hóa xạ trị và không có dấu hiệu tiến triển của bệnh. Họ được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược, 1500 mg durvalumab hoặc 1500 mg durvalumab kết hợp với 75 mg tremelimumab. Các phương pháp điều trị và giả dược được tiêm tĩnh mạch bốn tuần một lần, tuy nhiên, tremelimumab giới hạn tối đa bốn liều. Sau 24 tháng điều trị, kết quả cho thấy những bệnh nhân dùng durvalumab, có và không có kết hợp với tremelimumab có thời gian sống trung bình dài hơn là 55,9 tháng, so với 33,4 tháng ở nhóm dùng giả dược. Hơn nữa, durvalumab làm giảm đáng kể nguy cơ tiến triển bệnh và tử vong là 24%. Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ các tác dụng phụ giữa các nhóm, trong đó viêm phổi là tình trạng được báo cáo phổ biến nhất. Các nhà nghiên cứu cho rằng các tác dụng phụ có thể liên quan đến tác dụng còn sót lại của quá trình hóa trị trước đó hoặc các tình trạng bệnh tiềm ẩn hiện có.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 có sự tham gia của 530 người tham gia được chẩn đoán mắc ung thư phổi tế bào nhỏ giai đoạn I hoặc II không thể cắt bỏ hoặc bệnh giai đoạn III tiến triển. Những bệnh nhân này đã trải qua hai đợt hóa xạ trị và không có dấu hiệu tiến triển của bệnh. Họ được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược, 1500 mg durvalumab hoặc 1500 mg durvalumab kết hợp với 75 mg tremelimumab. Các phương pháp điều trị và giả dược được tiêm tĩnh mạch bốn tuần một lần, tuy nhiên, tremelimumab giới hạn tối đa bốn liều. Sau 24 tháng điều trị, kết quả cho thấy những bệnh nhân dùng durvalumab, có và không có kết hợp với tremelimumab có thời gian sống trung bình dài hơn là 55,9 tháng, so với 33,4 tháng ở nhóm dùng giả dược. Hơn nữa, durvalumab làm giảm đáng kể nguy cơ tiến triển bệnh và tử vong là 24%. Không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ các tác dụng phụ giữa các nhóm, trong đó viêm phổi là tình trạng được báo cáo phổ biến nhất. Các nhà nghiên cứu cho rằng các tác dụng phụ có thể liên quan đến tác dụng còn sót lại của quá trình hóa trị trước đó hoặc các tình trạng bệnh tiềm ẩn hiện có.