Đánh giá Ziresovir - một phương pháp điều trị nhiễm trùng RSV ở bệnh nhân nhi
|
Được tóm tắt bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
Được phiên dịch bởi Lê Phương Quỳnh Nhi, BA |
Đăng vào ngày 6 tháng 11 năm 2024
|
Bệnh nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) hiện nay có thể được điều trị hiệu quả bằng các kháng thể đơn dòng như palivizumab và nirsevimab. Tuy nhiên, đối với trẻ nhỏ bị chống chỉ định sử dụng kháng thể thì ribavirin là phương pháp điều trị duy nhất được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) phê duyệt. Một phương pháp thay thế tiềm năng khác là ziresovir - một loại thuốc kháng virus có thể liên kết và ức chế protein F của RSV. Do đó, công ty Shanghai Ark Biopharmaceutical đã tài trợ cho một nghiên cứu đánh giá hiệu quả của ziresovir trong việc điều trị nhiễm RSV ở bệnh nhi.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Trung Quốc với sự tham gia của 311 bệnh nhân trong độ tuổi từ 1 đến 24 tháng, tất cả đều nhập viện do nhiễm RSV, với gần một nửa trong số đó được xác nhận dương tính với phân nhóm A. Các triệu chứng ban đầu được đánh giá bằng thang đo viêm tiểu phế quản Wang (Tiếng anh: Wang bronchiolitis scale) cho thấy điểm trung bình là khoảng 6,7, trong đó điểm số 12 là nghiêm trọng nhất. Xét nghiệm RT-PCR được thực hiện trên mẫu dịch hút mũi họng vào đầu nghiên cứu và được phát hiện ra rằng nhóm bệnh nhân có tải lượng virus trung bình là 7,4 log bản sao trên mỗi mL. Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để nhận giả dược hoặc ziresovir mỗi 12 giờ một lần trong vòng 5 ngày. Liều dùng được điều chỉnh dựa trên cân nặng của bệnh nhân; liều tối thiểu là 10 mg được sử dụng cho những bệnh nhân nặng từ 2,5 đến 5,0 kg; đối với các bệnh nhân nặng từ 5-10 kg và 10-20 kg được nhận liều 20 mg và 40 mg tương ứng. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc sử dụng ziresovir giúp giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của bệnh vào ngày thứ 3 của quá trình điều trị, với mức giảm 3,4 điểm trên thang điểm viêm tiểu phế quản Wang. Bên cạnh sự khác biệt đáng kể về kết quả lâm sàng, những bệnh nhân được điều trị bằng ziresovir còn có mức giảm tải lượng virus lớn hơn so với nhóm dùng giả dược vào ngày cuối cùng của đợt điều trị. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng cần thận trọng khi sử dụng ziresovir để tránh sự phát triển của các chủng kháng thuốc, vì tỷ lệ kháng thuốc được ghi nhận là 9%. Ngoài ra, nghiên cứu này chỉ được thực hiện tại Trung Quốc, vì vậy chúng có thể không phản ánh được hiệu quả của ziresovir trong các điều kiện khác.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Trung Quốc với sự tham gia của 311 bệnh nhân trong độ tuổi từ 1 đến 24 tháng, tất cả đều nhập viện do nhiễm RSV, với gần một nửa trong số đó được xác nhận dương tính với phân nhóm A. Các triệu chứng ban đầu được đánh giá bằng thang đo viêm tiểu phế quản Wang (Tiếng anh: Wang bronchiolitis scale) cho thấy điểm trung bình là khoảng 6,7, trong đó điểm số 12 là nghiêm trọng nhất. Xét nghiệm RT-PCR được thực hiện trên mẫu dịch hút mũi họng vào đầu nghiên cứu và được phát hiện ra rằng nhóm bệnh nhân có tải lượng virus trung bình là 7,4 log bản sao trên mỗi mL. Các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên để nhận giả dược hoặc ziresovir mỗi 12 giờ một lần trong vòng 5 ngày. Liều dùng được điều chỉnh dựa trên cân nặng của bệnh nhân; liều tối thiểu là 10 mg được sử dụng cho những bệnh nhân nặng từ 2,5 đến 5,0 kg; đối với các bệnh nhân nặng từ 5-10 kg và 10-20 kg được nhận liều 20 mg và 40 mg tương ứng. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc sử dụng ziresovir giúp giảm đáng kể mức độ nghiêm trọng của bệnh vào ngày thứ 3 của quá trình điều trị, với mức giảm 3,4 điểm trên thang điểm viêm tiểu phế quản Wang. Bên cạnh sự khác biệt đáng kể về kết quả lâm sàng, những bệnh nhân được điều trị bằng ziresovir còn có mức giảm tải lượng virus lớn hơn so với nhóm dùng giả dược vào ngày cuối cùng của đợt điều trị. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng cần thận trọng khi sử dụng ziresovir để tránh sự phát triển của các chủng kháng thuốc, vì tỷ lệ kháng thuốc được ghi nhận là 9%. Ngoài ra, nghiên cứu này chỉ được thực hiện tại Trung Quốc, vì vậy chúng có thể không phản ánh được hiệu quả của ziresovir trong các điều kiện khác.