​
Y Hoc Chung Cu
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues
English

Hiệu quả của Tulisokibart trong việc kiểm soát bệnh viêm loét đại tràng từ trung bình đến nặng

Picture
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM  ​​​​​​​​​​
Đăng vào ngày 4 tháng 11 năm 2024
Picture

Các nghiên cứu gần đây về bệnh sinh lý của viêm loét đại tràng đã phát hiện ra rằng cytokine TL1A đóng vai trò quan trọng trong việc làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Cytokine có thể tương tác với các thụ thể DR3 trên tế bào T hỗ trợ để khuếch đại tình trạng viêm loại 1 và loại 17. Tulisokibart là một kháng thể có thể liên kết với TL1A và công ty Merck đã tài trợ một nghiên cứu để đánh giá khả năng kiểm soát viêm loét đại tràng của kháng thể này.

Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 có sự tham gia của 210 bệnh nhân bị viêm loét đại tràng từ trung bình đến nặng, những cá nhân này có điểm Mayo trung bình là khoảng 7. Trước đây, những bệnh nhân này đã được điều trị bằng glucocorticoid, thuốc ức chế miễn dịch và các liệu pháp khác nhưng vẫn không thuyên giảm. Đánh giá chủ quan bằng Bảng câu hỏi về bệnh viêm ruột (IBDQ) cho thấy điểm trung bình là 115 trên 224, cho thấy bệnh nặng. Phân tích hóa sinh lúc đầu cho thấy mức protein C-reactive trung bình là 10 mg/L và mức calprotectin trong phân là 1200 μg/g. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc tulisokibart. Tulisokibart được tiêm tĩnh mạch với liều ban đầu là 1000 mg vào ngày đầu tiên, sau đó là 500 mg vào tuần 2, 6 và 10. Đến tuần 12, phân tích sinh thiết cho thấy 32% những người được điều trị bằng tulisokibart đạt được thuyên giảm lâm sàng, so với chỉ 11% ở nhóm dùng giả dược. Phân tích cũng cho thấy ulisokibart vượt trội hơn giả dược trong việc cải thiện điểm IBDQ và giảm các dấu hiệu viêm như protein C-reactive và calprotein trong phân. Các tác giả đề xuất rằng các nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm một nhóm lớn hơn và thời gian quan sát dài hơn để có kết quả thuyết phục hơn.
  • Trang Chủ/Homepage
  • Giới Thiệu/About
  • CHỦ ĐỀ/TOPIC
    • COVID-19
    • Truyền Nhiễm / Infectious Disease
    • Tim Mạch / Cardiology
    • Phụ Sản Khoa / ObGyn
    • Xương Khớp / Orthopedic
    • Tiểu Đường & Nội Tiết / Diabetes & Endocrinology
    • Dị Ứng & Miễn Dịch / Allergy & Immunology
    • Tiêu Hóa / Gastrointestinal
    • Da Liễu / Dermatology
    • Tâm Lý / Psychiatry
    • Nhi Khoa / Pediatric
    • Ung Bướu / Oncology
    • Thần Kinh / Neurology
    • Hô Hấp / Respiratory
    • Tiết Niệu / Urology
  • Ấn Bản Trước/Previous Issues