Đánh Giá Hiệu Quả Của Liệu Pháp Kết Hợp Doxorubicin-Trabectedin Trong Bệnh Ung Thư Cơ Trơn Di Căn
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 10 năm 2024
|
Ung thư cơ trơn là một loại ung thư mô mềm phổ biến với tiên lượng xấu sau di căn. Mặc dù doxorubicin là phương pháp điều trị đầu tay tiêu chuẩn, các nghiên cứu trước đây đã tìm thấy rằng việc kết hợp nó với các liệu trình khác không cải thiện kết quả lâm sàng. Trabectedin là một liệu pháp điều trị thứ hai thường được sử dụng để kiểm soát sự tiến triển của bệnh sau di căn. Gần đây, một nghiên cứu do công ty PharmaMar tài trợ đã điều tra xem liệu việc bổ sung trabectedin vào phương pháp điều trị đầu tay bằng doxorubicin có thể cải thiện kết quả trong việc kiểm soát ung thư cơ trơn hay không.
Cuộc nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đã được tiến hành tại Pháp bao gồm 150 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cơ trơn, trong đó 90% các ca đã di căn, chủ yếu đến phổi và gan. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để được điều trị với phương pháp tiêu chuẩn là chỉ dùng doxorubicin hoặc liệu pháp kết hợp doxorubicin và trabectedin. Trong nhóm dùng đơn trị liệu, doxorubicin được tiêm tĩnh mạch với liều 75 mg/m² sau mỗi 3 tuần. Đối với nhóm kết hợp, liều doxorubicin được giảm xuống còn 60 mg/m², và trabectedin được dùng với liều 1,1 mg/m² sau mỗi 3 tuần. Cả hai nhóm đều được điều trị bằng các CSF: lenograstim (150 μg/m² vào ngày 3 và ngày 9) trong nhóm đơn trị và pegfilgrastim (6 mg vào ngày 2) trong nhóm kết hợp. Điều trị ở hai nhóm được dừng lại sau 6 chu kỳ, nhựng nhóm kết hợp vẫn tiếp tục sử dụng trabectedin trong 17 chu kỳ bổ sung. Sau thời gian theo dõi trung bình là 55 tháng, thời gian sống sót trung bình trong nhóm liệu pháp kết hợp doxorubicin và trabectedin là 33 tháng, so với 24 tháng trong nhóm đơn trị, cho thấy nguy cơ tử vong giảm 35%. Tuy nhiên, nhóm liệu pháp kết hợp có tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, bao gồm thiếu bạch cầu trung tính, thiếu máu, giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu trung tính do sốt, dẫn đến việc giảm liều thường xuyên hơn.
Cuộc nghiên cứu lâm sàng giai đoạn 3 đã được tiến hành tại Pháp bao gồm 150 người tham gia được chẩn đoán mắc bệnh ung thư cơ trơn, trong đó 90% các ca đã di căn, chủ yếu đến phổi và gan. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để được điều trị với phương pháp tiêu chuẩn là chỉ dùng doxorubicin hoặc liệu pháp kết hợp doxorubicin và trabectedin. Trong nhóm dùng đơn trị liệu, doxorubicin được tiêm tĩnh mạch với liều 75 mg/m² sau mỗi 3 tuần. Đối với nhóm kết hợp, liều doxorubicin được giảm xuống còn 60 mg/m², và trabectedin được dùng với liều 1,1 mg/m² sau mỗi 3 tuần. Cả hai nhóm đều được điều trị bằng các CSF: lenograstim (150 μg/m² vào ngày 3 và ngày 9) trong nhóm đơn trị và pegfilgrastim (6 mg vào ngày 2) trong nhóm kết hợp. Điều trị ở hai nhóm được dừng lại sau 6 chu kỳ, nhựng nhóm kết hợp vẫn tiếp tục sử dụng trabectedin trong 17 chu kỳ bổ sung. Sau thời gian theo dõi trung bình là 55 tháng, thời gian sống sót trung bình trong nhóm liệu pháp kết hợp doxorubicin và trabectedin là 33 tháng, so với 24 tháng trong nhóm đơn trị, cho thấy nguy cơ tử vong giảm 35%. Tuy nhiên, nhóm liệu pháp kết hợp có tỷ lệ tác dụng phụ cao hơn, bao gồm thiếu bạch cầu trung tính, thiếu máu, giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu trung tính do sốt, dẫn đến việc giảm liều thường xuyên hơn.