Gia Tăng Tiêu Thụ Protein Trong Buổi Ăn Giúp Giảm Rủi Ro Tử Vong Ở Bệnh Nhân Mắc Bệnh Thận Mãn Tính
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 27 tháng 9 năm 2024
|
Người lớn tuổi cần lượng protein cao hơn để duy trì sức khỏe tốt do các yếu tố như giảm hoạt động thể chất, suy giảm khẩu vị và gia tăng kháng insulin/protein. Tuy nhiên, đối với những người mắc bệnh thận mãn tính (CKD), lượng protein cao có thể làm tình trạng của họ trở nên tồi tệ hơn. Do đó, khuyến cáo những bệnh nhân mắc CKD giai đoạn 3 đến 5 nên hạn chế lượng protein tiêu thụ hàng ngày ở mức dưới 0,8 gam trên một kg trọng lượng cơ thể. Việc hạn chế lượng protein giúp làm chậm quá trình tiến triển của CKD, nhưng tác động rộng hơn của chế độ ăn lên sức khỏe tổng quan và tỷ lệ tử vong vẫn chưa rõ ràng.
Để trả lời câu hỏi này, một nghiên cứu đoàn hệ tương lai đã được tiến hành ở Thụy Điển và Tây Ban Nha. Nghiên cứu bao gồm đến hơn 14 ngàn hồ sơ sức khỏe của những người tham gia từ 60 tuổi trở lên. Trong số đó, 4.789 người mắc bệnh thận mãn tính (CKD), được xác định bằng tỷ lệ lọc cầu thận ước tính (EGFR) dưới 60 mL/phút/1,73 mét vuông và nồng độ albumin trong nước tiểu tăng cao. Khoảng 85% số bệnh nhân thận mãn tính này được phân loại là mắc bệnh giai đoạn 3, phần lớn số còn lại ở giai đoạn 2. Lượng protein trong chế độ ăn được ước tính thông qua bảng câu hỏi và có lượng trung bình khoảng 1,15 g/kg/ngày, với hai phần ba có nguồn gốc từ động vật và phần còn lại từ thực phẩm có nguồn gốc thực vật như rau, ngũ cốc và các loại đậu. Sau thời gian theo dõi 10 năm, phân tích cho thấy lượng protein cao hơn có thể giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân mắc bệnh thận mãn tính. Những người tiêu thụ 1,4 g protein trên mỗi kg trọng lượng cơ thể hàng ngày có nguy cơ tử vong giảm 27% so với những người tiêu thụ 0,8 g/kg/ngày. Ngoài ra, tỷ lệ tử vong ở những người tiêu thụ 1,0 g/kg/ngày giảm 12% và những người tiêu thụ 1,2 g/kg/ngày giảm 21%. Nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt đáng kể nào về nguy cơ tử vong giữa nguồn protein động vật và thực vật. Những phát hiện này tương tự với các nghiên cứu trước, chẳng hạn như một nghiên cứu nhỏ hơn ở Nhật với 259 người tham gia, cũng cho thấy rằng lượng protein cao hơn giúp giảm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân trong bốn năm. Các tác giả cho rằng lợi ích của lượng protein cao hơn, chẳng hạn như hỗ trợ hệ thống cơ xương và tăng cường chức năng miễn dịch, lớn hơn nguy cơ tiến triển của CKD. Họ khuyến nghị các nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm những bệnh nhân mắc CKD nặng hơn, với nhóm bệnh nhân đa dạng hơn.
Để trả lời câu hỏi này, một nghiên cứu đoàn hệ tương lai đã được tiến hành ở Thụy Điển và Tây Ban Nha. Nghiên cứu bao gồm đến hơn 14 ngàn hồ sơ sức khỏe của những người tham gia từ 60 tuổi trở lên. Trong số đó, 4.789 người mắc bệnh thận mãn tính (CKD), được xác định bằng tỷ lệ lọc cầu thận ước tính (EGFR) dưới 60 mL/phút/1,73 mét vuông và nồng độ albumin trong nước tiểu tăng cao. Khoảng 85% số bệnh nhân thận mãn tính này được phân loại là mắc bệnh giai đoạn 3, phần lớn số còn lại ở giai đoạn 2. Lượng protein trong chế độ ăn được ước tính thông qua bảng câu hỏi và có lượng trung bình khoảng 1,15 g/kg/ngày, với hai phần ba có nguồn gốc từ động vật và phần còn lại từ thực phẩm có nguồn gốc thực vật như rau, ngũ cốc và các loại đậu. Sau thời gian theo dõi 10 năm, phân tích cho thấy lượng protein cao hơn có thể giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân mắc bệnh thận mãn tính. Những người tiêu thụ 1,4 g protein trên mỗi kg trọng lượng cơ thể hàng ngày có nguy cơ tử vong giảm 27% so với những người tiêu thụ 0,8 g/kg/ngày. Ngoài ra, tỷ lệ tử vong ở những người tiêu thụ 1,0 g/kg/ngày giảm 12% và những người tiêu thụ 1,2 g/kg/ngày giảm 21%. Nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt đáng kể nào về nguy cơ tử vong giữa nguồn protein động vật và thực vật. Những phát hiện này tương tự với các nghiên cứu trước, chẳng hạn như một nghiên cứu nhỏ hơn ở Nhật với 259 người tham gia, cũng cho thấy rằng lượng protein cao hơn giúp giảm nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân trong bốn năm. Các tác giả cho rằng lợi ích của lượng protein cao hơn, chẳng hạn như hỗ trợ hệ thống cơ xương và tăng cường chức năng miễn dịch, lớn hơn nguy cơ tiến triển của CKD. Họ khuyến nghị các nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm những bệnh nhân mắc CKD nặng hơn, với nhóm bệnh nhân đa dạng hơn.