Sự Hiệu Quả Của Osimertinib Trong Việc Điều Trị Ung Thư Phổi Không Phải Tế Bào Nhỏ Với Đột Biến Thụ Thể Yếu Tố Tăng Trưởng Biểu Bì (EGFR)
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 25 tháng 9 năm 2024
|
Do bản chất của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC), hầu hết các trường hợp bệnh đều không thể điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ, khiến hóa xạ trị kết hợp với durvalumab trở thành phương pháp điều trị tiêu chuẩn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng bệnh nhân NSCLC có đột biến ở thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì (EGFR) có tiên lượng kém hơn. Osimertinib, một chất ức chế EGFR, gần đây đã được đánh giá về hiệu quả trong điều trị NSCLC đột biến EGFR trong một nghiên cứu do AstraZeneca tài trợ.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Nhật Bản bao gồm 216 bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn III không thể cắt bỏ, có đột biến EGFR. Phân tích mô học cho thấy phần lớn các khối u là ung thư biểu mô tuyến, với 3% là ung thư biểu mô tế bào vảy. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng liều uống hàng ngày có 80 mg osimertinib hoặc giả dược; điều trị được tiếp tục cho đến khi bệnh tiến triển. Sau thời gian theo dõi trung bình là 22 tháng, nhóm nghiên cứu phát hiện rằng osimertinib có khả năng kéo dài đáng kể thời gian sống không tiến triển bệnh lên 39,1 tháng, giảm 84% nguy cơ bệnh tiến triển hoặc tử vong, so với 5,6 tháng được báo cáo cho nhóm dùng giả dược. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng trong khi các nghiên cứu trước đây cho thấy nguy cơ viêm phổi tăng lên khi dùng các chất ức chế EGFR khác. Nghiên cứu hiện tai đã quan sát thấy nguy cơ viêm phổi gia tăng ở nhóm sử dụng osimertinib, nhưng không có ý nghĩa lâm sàng khi so sánh với nhóm đối chứng.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 được tiến hành tại Nhật Bản bao gồm 216 bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) giai đoạn III không thể cắt bỏ, có đột biến EGFR. Phân tích mô học cho thấy phần lớn các khối u là ung thư biểu mô tuyến, với 3% là ung thư biểu mô tế bào vảy. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng liều uống hàng ngày có 80 mg osimertinib hoặc giả dược; điều trị được tiếp tục cho đến khi bệnh tiến triển. Sau thời gian theo dõi trung bình là 22 tháng, nhóm nghiên cứu phát hiện rằng osimertinib có khả năng kéo dài đáng kể thời gian sống không tiến triển bệnh lên 39,1 tháng, giảm 84% nguy cơ bệnh tiến triển hoặc tử vong, so với 5,6 tháng được báo cáo cho nhóm dùng giả dược. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng trong khi các nghiên cứu trước đây cho thấy nguy cơ viêm phổi tăng lên khi dùng các chất ức chế EGFR khác. Nghiên cứu hiện tai đã quan sát thấy nguy cơ viêm phổi gia tăng ở nhóm sử dụng osimertinib, nhưng không có ý nghĩa lâm sàng khi so sánh với nhóm đối chứng.