Tác Động Của Vi-rút Hợp Bào Hô Hấp RSV Lên Sức Khỏe Tim Mạch Ở Người Lớn Tuổi
|
Được tóm tắt & phiên dịch bởi Nguyễn Tiến Đạt, BA, ScM
|
Đăng vào ngày 23 tháng 9 năm 2024
|
Buồn nôn và nôn mửa là hai tác dụng phụ thường gặp của việc điều trị ung thư bằng hóa trị, đặc biệt là với các phác đồ bao gồm oxaliplatin, irinotecan và carboplatin, khiến cho việc điều trị dự phòng chống nôn quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Olanzapine, một loại thuốc chống loạn thần thường được sử dụng để điều trị bệnh tâm thần phân liệt, gần đây đã được đánh giá trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp Chí của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ (Journal of the American Medical Association) để xác định xem các đặc tính chống nôn của thuốc có thể hỗ trợ ngăn ngừa các tác dụng phụ ở những bệnh nhân hóa trị.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 560 bệnh nhân bị các khối u ác tính rắn. 58% người tham gia báo cáo mắc ung thư đại tràng, trong khi ung thư dạ dày thực quản, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ung thư đường mật và ung thư bàng quang mỗi loại được phát hiện ở mức khoảng 10%. Hơn một nửa số bệnh nhân có khối u giai đoạn IV và khoảng 45% mắc bệnh giai đoạn III. Các bệnh nhân đang điều trị bằng hóa trị, với hơn 60% dùng phác đồ có oxaliplatin, 30% dùng carboplatin và 10% dùng irinotecan. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc 10 mg olanzapine đường uống vào ngày đầu tiên và ngày thứ ba của quá trình hóa trị. Tất cả bệnh nhân cũng được điều trị bằng dexamethasone và chế độ chống nôn tiêu chuẩn gồm palonosetron và aprepitant. Trong vòng 120 giờ đầu tiên sau hóa trị, olanzapine đã ngăn ngừa nôn mửa và giảm đáng kể buồn nôn ở 91% người tham gia, so với 82% ở nhóm chỉ dùng thuốc chống nôn tiêu chuẩn. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng olanzapine làm tăng nguy cơ buồn ngủ, cùng với tỷ lệ tăng cảm giác thèm ăn và táo bón cao hơn. Một hạn chế chính của nghiên cứu là sự đại diện quá mức của những bệnh nhân mắc bệnh ung thư đường tiêu hóa, cho thấy cần phải nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm bệnh nhân bị mắc các loại ung thư khác.
Thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 bao gồm 560 bệnh nhân bị các khối u ác tính rắn. 58% người tham gia báo cáo mắc ung thư đại tràng, trong khi ung thư dạ dày thực quản, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ung thư đường mật và ung thư bàng quang mỗi loại được phát hiện ở mức khoảng 10%. Hơn một nửa số bệnh nhân có khối u giai đoạn IV và khoảng 45% mắc bệnh giai đoạn III. Các bệnh nhân đang điều trị bằng hóa trị, với hơn 60% dùng phác đồ có oxaliplatin, 30% dùng carboplatin và 10% dùng irinotecan. Những người tham gia được chỉ định ngẫu nhiên để dùng giả dược hoặc 10 mg olanzapine đường uống vào ngày đầu tiên và ngày thứ ba của quá trình hóa trị. Tất cả bệnh nhân cũng được điều trị bằng dexamethasone và chế độ chống nôn tiêu chuẩn gồm palonosetron và aprepitant. Trong vòng 120 giờ đầu tiên sau hóa trị, olanzapine đã ngăn ngừa nôn mửa và giảm đáng kể buồn nôn ở 91% người tham gia, so với 82% ở nhóm chỉ dùng thuốc chống nôn tiêu chuẩn. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng olanzapine làm tăng nguy cơ buồn ngủ, cùng với tỷ lệ tăng cảm giác thèm ăn và táo bón cao hơn. Một hạn chế chính của nghiên cứu là sự đại diện quá mức của những bệnh nhân mắc bệnh ung thư đường tiêu hóa, cho thấy cần phải nghiên cứu trong tương lai nên bao gồm bệnh nhân bị mắc các loại ung thư khác.